Truyen3h.Co

Thu ngỏ

XXXV.

Lece35

Xin chào, tớ là Lece. Và bài hát dành cho chương ngày hôm nay mang tên:
Drag Path — Twenty One Pilots.

˖ ✧ ⋅˚₊‧ ۶ৎ ‧₊˚ ⋅ ✧ ˖

"Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình rất tầm thường ở Lewes, miền nam nước Anh. Bố tôi là thợ cơ khí, ông làm việc trong một xưởng đóng tàu có tiếng tại Portsmouth. Mẹ tôi không có nghề nghiệp gì cụ thể, bà chăn nuôi gia súc, lấy sữa dê và dệt lông cừu rồi mang ra chợ trấn để bán. Ngày thường, tôi rất ít khi gặp mặt bố. Ông phải làm việc bất kể giờ giấc để cung cấp đủ tàu thuyền cho quân đội, chỉ thỉnh thoảng về nhà giữa các đợt nghỉ phép ngắn hạn. Mỗi lần về, bố sẽ lại mang theo rất nhiều quà bánh và quần áo đẹp, rồi dẫn mẹ và tôi đi ăn những món mà chúng tôi thích nhất. Tôi được nuôi dạy như một con chiên ngoan đạo, đến nhà thờ mỗi cuối tuần và cầu nguyện hàng ngày trước mọi điều tốt xảy đến để cảm ơn Chúa đã ban phước lành cho cuộc đời của chúng tôi. Tuổi thơ của tôi khá êm đềm và hạnh phúc, dù nó chỉ kéo dài được đến khi tôi tròn mười tuổi.

Đó là vào một ngày mùa thu mà tôi đã quên mất, năm 1972. Thời điểm ấy, chẳng biết là may mắn hay xui xẻo mà kì nghỉ phép của bố trùng vào sinh nhật của tôi. Vì nhà tôi nằm ở vùng Lewes đồi núi, bố tôi quyết định chở tôi và mẹ đến Brighton ngắm cảnh biển, cũng là muốn xem thử cuộc sống của giới nhà giàu ở đó trông như thế nào. Hôm ấy, tôi được ngắm biển lần đầu tiên. Gia đình tôi đã có một ngày vô cùng hạnh phúc, nhưng tôi sẽ không làm mất thời gian mà kể về sự hạnh phúc của tôi.

Vấn đề lớn xảy ra khi chiếc xe của chúng tôi bỗng dưng bị hỏng trên đường về. Tốn rất nhiều thời gian để bố tôi có thể sửa nó, và khi nó chạy lại như thường, trời đã sụp tối. Chúng tôi đi được nửa đường về nhà thì một cơn mưa to xối xả ập đến, che khuất hầu hết tầm nhìn. Những con đường đèo từ Brighton hướng về Lewes thường rất dốc và nhiều khúc ngoặt, thậm chí suốt hàng trăm cây số chẳng có đèn đường. Vì vậy, tôi đã rất bất an. Linh cảm của tôi mách bảo rằng có chuyện không may sẽ xảy ra, dù cho bố tôi có đang chạy rất chậm đi chăng nữa.

Tôi ngồi ở ghế sau cầu nguyện rằng Chúa sẽ giúp chúng tôi, trong khi bố và mẹ tôi cố nhớ ra một con đường khác dễ đi và ít khúc cua gấp. Nhưng chuyện tồi tệ cuối cùng cũng đến. Một chiếc ô tô ngược đường phóng rất nhanh đã bị cơn mưa che khuất và khiến bố tôi không phản ứng kịp. Hai chiếc xe gần như đâm vào nhau, nhưng bố tôi đã theo phản xạ đánh lái tránh chiếc còn lại, làm chiếc xe của chúng tôi lật ra, đâm vào hàng rào cây gai bên đường. Tôi lập tức cảm nhận được cơn đau khi người tôi ngã nhào, trên lưng găm sâu rất nhiều mảnh kính vỡ. Vì va đập quá mạnh, đầu óc tôi choáng váng và đau nhức đến cùng cực, tay chân nặng như những khúc gỗ được gắn vào cơ thể. Tôi cố mở mắt để nhìn xem bố mẹ mình đã như thế nào. Bố tôi bất động, cơ thể đầy máu và những vết cắt. Tình trạng của mẹ tôi cũng chẳng khác. Tôi thấy mẹ thở, nhưng hơi thở đó yếu và nặng nề vô cùng.

Còn chưa kịp hoàn hồn khỏi cơn chấn động kinh hoàng đó, ngay tầm mắt tôi, từ chiếc xe bên kia có một người đàn ông bước tới. Ông ta gầy khòm, trông như một tên tù tội đau khổ, vừa đi vừa rên rỉ bàng hoàng. Dường như ông ta sợ hãi đến mức quên cả việc trời đang mưa tầm tã. Ngay lúc ông ta vừa định chạm vào xe chúng tôi thì lại có một người đàn ông khác, trông béo núc như một con lợn rừng, nhào đến đẩy ông ta ra.

"Mày định làm cái quái gì vậy?" Lão ta la làng lên. Lại thêm một người đàn ông xuất hiện bên cạnh lão, người này có mang ô. "Mày để lại chứng cứ bây giờ, đồ ngu!"

"Người phụ nữ đó còn thoi thóp, nếu kịp, chúng ta sẽ có thể cứu được cô ấy!" Lão khòm bật ra giọng run run khốn khổ.

Lúc này, người đàn ông mang ô mới bước về trước, đưa tay tát mạnh vào mặt ông già. Tên này sau đó còn lấy từ túi ra một chiếc khăn mùi xoa, lau chùi tay vừa dùng để tát, cử chỉ tao nhã đến mức buồn nôn. Xong xuôi, tên đó cất khăn vào lại túi, giở giọng bề trên nói một tràng dài:

"Tỉnh táo lại đi, đồ nô lệ thấp kém. Ông không nhận ra hậu quả khi dính dáng đến thứ rắc rối này sao? Tôi còn cả một tương lai chính trị trước mắt, Smith cũng còn cả doanh nghiệp sau lưng. Chúng tôi sẽ cho ông vài ngàn bảng để ngậm cái mõm chó của mình lại, dù sao chuyện này cũng là do ông làm ra đấy."

"Nếu các người không ép tôi chạy thật nhanh thì làm gì ra nông nổi này?" Lão già đáp lời, dù giọng nói nghe cũng chẳng còn quyết liệt như trước.

Đúng lúc đó, một người đàn ông khác bước ra khỏi chiếc xe bên kia, cũng mang theo ô. Hắn không quan tâm đến cuộc tranh cãi của ba người còn lại mà đi thẳng đến chiếc xe của chúng tôi. Khi hắn cúi thấp người nhìn vào trong xe, tôi có thể cảm giác được một sự truy lùng vô hình nào đó giống như những con đỉa hút vào da thịt mình. Không biết có phải vì mất máu hay không, tôi thấy lạnh đến sởn cả gai óc. Hắn ta có đôi mắt màu vàng mật kì dị, đồng tử chẻ dọc hệt như một con rắn. Một đợt sấm đánh vang trời làm đôi mắt đó sáng lên ghê rợn. Tôi thật sự đã nghĩ rằng hắn chính là quỷ Satan đến bắt gia đình mình đi. Vì vậy, tôi nhắm mắt và cầu nguyện, xin Chúa nhân từ thương xót. Nhưng không như suy nghĩ của tôi, lát sau người đàn ông đáng sợ kia lại đứng thẳng dậy, quay về phía ba người khác. Giọng người đàn ông béo núc ních lại vang lên:

"Bây giờ tôi mới nhớ ra là trong số chúng ta có cảnh sát."

Nghe thấy câu đó, tôi ngừng cầu nguyện, mở mắt nhìn với hi vọng sẽ được cứu. Tôi không biết cảnh sát là ai, nhưng tôi nghe bố mẹ nói rằng cảnh sát đã giúp thị trấn an toàn, tôi có thể tin họ.

"Vậy, anh cảnh sát..." Người đàn ông vai rộng ngẩng mặt. "Anh nghĩ sao?"

Tên ác quỷ nhìn mặt cả người đàn ông béo núc, người đàn ông vai rộng và người đàn ông gầy khòm, cuối cùng chỉ nói một câu duy nhất.

"Đoạn đường đèo này trơn trượt quá nhỉ?"

Sau câu đó, hắn ta ung dung đi về phía xe mình, bước vào bên trong. Theo sau là người đàn ông vai rộng và người đàn ông béo núc. Người đàn ông gầy khòm nhìn về phía xe của chúng tôi một lần cuối rồi quyết định quay đầu, trở về vị trí cũ.

Bọn họ chọn bỏ mặc chúng tôi cho đến chết.

Khi chiếc ô tô kia chuyển bánh, niềm hi vọng của tôi cũng trôi đi theo dòng nước mưa ồ ạt. Trong tuyệt vọng, tôi cố gắng ghi nhớ biển số chiếc xe và giọng nói của họ, hình dáng của người đàn ông béo núc, phong thái của người đàn ông vai rộng và đôi mắt của người đàn ông trông như quỷ dữ. Trời vẫn vang rền sấm chớp khi tôi lịm đi vì mất máu.

Sau vụ tai nạn, cuộc sống của tôi bị đảo lộn hoàn toàn. Bố tôi chết. Mẹ tôi chết. Tôi còn sống nhưng thành một kẻ điên. Tôi không thể ngủ vì những cơn ác mộng sẽ đưa tôi về với đêm mưa đó, và càng mất ngủ, tôi càng thấy ảo giác nhiều hơn. Tôi la hét điên cuồng, nói rằng mình gặp quỷ, dùng mọi cách để tự tử nhưng bất thành. Thời gian đầu bị nhốt trong phòng chăm sóc đặc biệt của bệnh viện thánh Francis, tôi hoàn toàn không thể nhận thức được bản thân đang ở đâu, đang làm gì. Tôi là ai, tại sao tôi ở đây, người thân của tôi đâu rồi. Những câu hỏi liên tục tràn vào não, làm óc tôi ê buốt. Có lẽ, nếu như tôi không được chăm sóc kĩ lưỡng vào thời điểm đó, tôi sẽ chết chỉ vì điên dại.

Dần dần, mọi thứ khá hơn. Đến khi tôi cảm thấy bản thân đã có đủ tỉnh táo, tôi giả vờ như đầu mình không đau nhức. Tôi kìm nén sự sợ hãi sau mỗi cơn ác mộng, học cách ngăn chặn cảm giác muốn khóc, cố gắng không nghĩ về cái chết nhiều nhất có thể. Và họ thả tôi ra.

Bởi vì tôi không có họ hàng thân thích và vẫn còn khá nhỏ, tôi được chuyển đến một mái ấm dành cho trẻ mồ côi. Tôi khép mình và luôn không nói chuyện, những đứa trẻ khác cũng vì việc đó mà cô lập tôi. Chúng cảm thấy tôi lập dị và kì quái. Tôi thì không bận tâm điều gì ngoài việc cố gắng tỏ ra ngoan ngoãn và giả vờ như mình không đau đầu, vì họ đã ngừng kê thuốc giảm đau cho tôi kể từ khi tôi nói dối. Mái ấm đó là một nơi rất tốt, tiếc rằng nó không thể nuôi dưỡng tôi thành một người có đạo đức. Không mái ấm nào có thể.

Khoảng thời gian đó, tôi xem việc đọc nhật báo là mục tiêu để thức dậy mỗi ngày. Lúc đầu, tôi đọc để chờ xem vụ tai nạn của gia đình mình có được đưa ra ánh sáng không, tôi có được cho là đủ tỉnh táo để làm chứng và bắt những kẻ thủ ác đó chịu tội không. Đọc nhật báo chẳng thấy tin tức gì, tôi lại hỏi khéo người trong mái ấm. Ai cũng bảo rằng họ từng thấy tai nạn của gia đình tôi trong vài tờ báo nhỏ, ở mục tin vắn. Họ nói gì đó về việc đường trơn và xui rủi, nhưng tôi vẫn luôn ngớ ra như một con khỉ không hiểu tiếng người.

Tất cả mọi người ở Lewes và Brighton. Southdown. Anh Quốc. Tất cả đều xem vụ tai nạn của gia đình tôi là một sự cố thương tâm hi hữu.

Tôi biết họ sẽ không tin lời một đứa từng điên loạn nặng như tôi. Tôi biết họ sẽ có thể đưa tôi trở lại bệnh viện tâm thần. Tôi biết cuộc đời không công bằng với những đứa thấp cổ bé họng. Và tôi biết, Chúa đéo làm được con mẹ gì cả.

Thế là, mầm mống thù hận đã được ươm trong lòng tôi từ ngày đó. Sau này, tôi không chỉ đọc nhật báo, tôi còn đọc rất nhiều tài liệu khác để tìm ra tung tích của những kẻ đã giết chết cuộc đời tôi. Tôi biết được lúc ấy ở Lewes có một bữa tiệc thương nghiệp lớn, và dựa vào tuyến đường ngày đó gặp tai nạn, tôi nghĩ rằng có lẽ những tên này là khách tham gia tiệc đang trên đường từ trung tâm Lewes để đến sân bay Shoreham phía tây Brighton. Suốt vài năm tìm kiếm miệt mài từ đầu mối kia, tôi cuối cùng cũng lần được dấu vết tất cả bọn chúng.

Tên đàn ông béo núc là James Smith, sống ở London. Tìm ra hắn là dễ nhất, bởi thời điểm đó doanh nghiệp của hắn vừa mới phất lên, báo chí phỏng vấn nhiều không đếm xuể. Hắn là một tên giàu có nhưng cục mịch, mang phong thái bỗ bã của những kẻ đi lên từ con đường cờ bạc. Theo tôi đánh giá, gã này là ngạo mạn và ngu xuẩn nhất, tôi còn sợ mình không kịp trừng phạt hắn trước khi có kẻ khác làm thay tôi.

Tên đàn ông vai rộng là Alastor Frederick Milverton, vẫn ở London. Tên này cũng dễ tìm, vì hắn là một chính trị viên. Tính cách của tên này khá xảo trá, lại còn trịch thượng, rất nhiều người xem hắn là cái gai trong mắt. Hắn thường lên báo với mấy tiêu đề đầy mỉa mai, như "những phát ngôn phóng khoáng phá vỡ định kiến" hay "suy nghĩ táo bạo về mặt trái của các quy luật tất yếu". Tôi còn từng tự bỡn cợt với bản thân rằng có khi ngày tôi gặp lại Milverton, hắn sẽ chỉ còn là một bộ tro cốt bụi bặm.

Tên đàn ông với đôi mắt quỷ dữ là Anthony Crowley, cảnh sát. Tôi... sau khi tìm ra hắn, tôi ngay lập tức có thể kết luận hắn sẽ là kẻ khó xử lí nhất.

Tên đàn ông gầy khòm là Dean Dawson, tài xế, quê nhà là Lewes nhưng lại chuyển đến London sau vụ tai nạn. Tìm hắn là khó nhất, bởi hắn không phải là một kẻ có tiếng tăm gì. Tôi chỉ có thể lần theo biển số xe và chút miêu tả hình dáng để tìm ra hắn.

Cố định được mục tiêu rồi, tôi bắt đầu hành trình trả thù của mình. Tôi đổi tên họ để che giấu tung tích. Sau khi lập ra hàng trăm, hàng ngàn kế hoạch, tôi quyết định trở thành chuyên viên pháp y của sở cảnh sát. Đó là một vị trí ít bị dòm ngó, vừa có thể can thiệp chứng cứ, vừa giữ cho mình thoát khỏi vòng nghi ngờ. Nghĩ là làm, tôi học đến suy nhược thần kinh để có thể đỗ ngành y. Cuối cùng, tôi đỗ thật.

Dẫu là thời điểm trước kia hay khi đã theo học đại học Oxford, tôi vẫn luôn theo dõi sát sao hành tung của những kẻ đó. Tôi cũng học điều chế độc dược nhờ vào sự dồi dào tài nguyên khi làm sinh viên Oxford. Thời gian trôi, tôi liên tục học và làm việc, nhẫn nhịn đến khi ra trường và được điều đến Westminster. Cơn đau đầu theo tôi dai dẳng hơn mười năm trời vẫn thúc giục tôi hàng ngày. Tuy nhiên, tôi không phải một con người nóng vội. Vì thế, tôi chờ.

Trong thời gian làm việc ở Westminster, tôi quen với Dean Dawson. Tôi nói với hắn rằng tôi thích gọi xe của hắn vì lúc nào hắn cũng chạy rất an toàn. Hắn vui vẻ kể với tôi về bí quyết để tỉnh táo của hắn, những viên kẹo chanh. Và tôi bắt đầu suy tính.

Không phụ lòng chờ đợi của tôi, vào mùa hè năm 1996, tôi đã được chuyển tới bộ phận dịch vụ khám nghiệm pháp y của sở cảnh sát. Ba ngày trước khi chính thức chuyển công tác, tôi thông báo với hắn rằng tôi sẽ không còn gặp hắn nữa. Và tôi tặng hắn bịch kẹo chanh từ giã với một viên kẹo chanh đặc biệt chứa thuốc ngủ.

Màu của nó có chút khác, xem như tôi đã tha cho hắn rồi.

Vậy mà hắn vẫn chết. Đó là định mệnh thôi.

Trà trộn được vào sở cảnh sát, tôi bắt đầu thực hiện kế hoạch trả thù mình đã trù tính suốt hai mươi lăm năm. Tôi giết James Smith trước, và những gì sở cảnh suy đoán về phương thức giết người là hoàn toàn đúng. Tôi đã theo dõi hắn đủ lâu để biết những ngày nào hắn đến sòng bạc, và hôm ấy, tôi đột nhập vào chiếc xe của hắn, chờ đợi hắn chơi xong. Khi hắn bước vào xe, tôi chưa vội ra tay. Tôi dùng một khẩu súng chỉa và thái dương hắn và bắt đầu tra hỏi. Vài giây trôi, hắn không nhớ ra tôi, chỉ khăng khăng tôi nhận nhầm người. Một lúc sau, hắn khóc ré lên bảo bao năm nay hắn vẫn luôn hối hận vì ngày đó đã bất đắc dĩ bỏ chúng tôi lại. Hắn nói rằng nếu hắn biết tôi có trong xe thì hắn chắc chắn sẽ cứu tôi.

Những chuyện hắn nói nực cười tới độ tôi chỉ cảm thấy thương hại cho bộ não béo ú của hắn. Thế nên tôi giết hắn. Với tư cách là một pháp y, tôi biết những thứ dấu vết mình không được phép để lại. Tuy nhiên, tôi chẳng thể để hắn chết trong yên bình. Hắn phải nhận lấy sự trừng phạt vì bỏ mặc chúng tôi. Nếu mắt đã không dùng được thì nên vứt bỏ, nếu tay đã không động đậy được thì cứ việc gãy lìa. Hơi thở của hắn nặng nề, mắt long sòng sọc, các cơ liên tục giật thon thót. Nhìn hắn, tôi cảm thấy bản thân đã giúp Chúa thanh trừng những kẻ đáng phải chết. Tôi tự hào xiết bao.

Tôi bỏ mặc hắn chết do mất máu, như cái cách hắn bỏ mặc mẹ tôi.

Tôi cũng giết Milverton như vậy. Tên này già đời hơn, biết moi tiền ra thương lượng. Ban đầu hắn tưởng như thế có thể giúp hắn giữ được cái mạng quèn đáng nguyền rủa của mình, thế nên hắn ngông nghênh tỏ thái độ trịch thượng. Về sau, thấy tôi không lung lay chút nào, hắn lại nhẹ giọng khuyên giải tôi. Khi đã không thể nghe hắn nói về đạo đức nữa, tôi thẳng tay đẩy hắn xuống địa ngục.

Tên cảnh sát về hưu kia thì khác, vì hắn đã lần tìm được danh tính tôi. Không đợi tôi tới giết, hắn tự mình đi đến căn hộ của tôi và muốn thủ tiêu tôi. Sau khi giằng co kịch liệt, tôi bị hắn đẩy ngã đến bất tỉnh. Hắn định thiêu cháy tôi với căn hộ để ngụy tạo chứng cứ giả, nhưng tôi lại may mắn thoát chết.

Cùng cuối, hắn hẹn tôi đến Hampstead. Tôi biết hắn muốn giải quyết với tôi, mà vì bản thân cũng không còn mục tiêu nào khác, tôi đến gặp hắn. Tôi thậm chí mang theo một trò cá cược kinh điển, bởi vì dù sao sau cuộc gặp này một trong hai chúng tôi cũng phải chết. Tôi đoán kẻ như hắn chắc chắn sẽ chấp nhận trò chơi. Và thật sự là sau khi thấy tôi thử độc lên con vẹt, hắn đã không chút sợ hãi mà uống thuốc.

Một lần nữa, tôi lại sống sót.

Những kẻ ác đó dĩ nhiên không thể ngờ rằng đứa trẻ điên chúng bỏ sót năm nào đã thay Chúa để đến trừng phạt chúng vì tội ác mình gây ra. Nhìn xem, cũng nhờ chúng dùng quyền lực lấp liếm vụ tai nạn kĩ càng mà tôi mới có thể thuận lợi tiến xa đến thế này. Đúng là ác giả ác báo, phải không?

Tôi đã suýt chết ba lần. Bây giờ, tôi đầu thú, xem như tự phán xử cái chết cuối cùng dành cho tôi. Tôi xin thề rằng mọi lời tôi nói đều là thành thật, và chỉ có tôi là kẻ đứng sau tất cả chuyện này. Tôi đã dựng lên một mối quan hệ thân mật với Anthony J. Crowley, thứ mà ai cũng dễ dàng nhận ra chỉ là một con tốt thí dọn đường trong bàn cờ lớn tôi đã chơi bằng cả cuộc đời mình.

Và vì tôi sẽ xuống địa ngục, hãy để tôi xuống địa ngục với cái tên Ezra Fell."

˖ ✧ ⋅˚₊‧ ۶ৎ ‧₊˚ ⋅ ✧ ˖

Tất cả vốn dĩ chỉ là một vở kịch. Một vở bi kịch dài, quỵ luỵ, đau đớn. Sẽ chẳng có ai cứu rỗi em, cũng chẳng có ai cứu rỗi gã.

Cái kết mà Crowley buộc phải đối mặt đã đến rồi.

Khi cuộn băng chiếu hết, trong văn phòng cũng chẳng phải chỉ có gã và Newt. Nhưng cái tên thanh tra đáng thương đó làm sao còn chút tỉnh táo nào để nhận ra chứ. Đầu óc gã trống rỗng, tai gã ong ong, ánh mắt vô định hướng vào bức tường trước mặt.

Điện thoại kêu lên thông báo. Gã trong cơn mơ hồ chỉ có thể theo bản năng với lấy nó, mở xem dòng tin nhắn ngắn ngủn hiện lên rồi đứng dậy rời đi. Trước ánh mắt của bao cảnh sát khác, Crowley trông loạng choạng như một tên say. Chỉ có Beez biết điều mà bảo bọn họ không ngăn cản hay giúp đỡ gã.

Đằng ấy rõ hơn ai hết, Crowley sẽ lập tức sụp đổ nếu nhận thấy bất cứ sự thương hại nào.

˖ ✧ ⋅˚₊‧ ۶ৎ ‧₊˚ ⋅ ✧ ˖

Chiếc Bentley phóng vù vù như gió giữa nội đô. Gã thậm chí còn lái xe bằng một tay, tay kia dùng để mân mê chiếc hộp vuông bọc nhung trong túi áo, sau đó lại buông nó ra, vớ lấy điện thoại. Nhìn vào thông tin người gửi, Crowley chua chát cười một tràn thật dài, thật to, thật mỉa mai trào phúng.

Thêm một khúc cua nữa, chiếc Bentley đã đậu lại ở nơi góc phố quen. Đóng cánh cửa xe mạnh đến vang dội, gã nhìn vào căn hộ cháy đen ngày ấy, lòng cuộn lên những đợt buồn nôn dữ dội. Mọi thứ đều ám một màu đen, bất kể cửa kính, tường hay mái. Từ ngoài vào, gã không thể nhìn thấy điều gì, hay đúng hơn là ai, đang đợi mình ở bên trong.

Nhưng Crowley biết, bước vào đó rồi, khi bước ra gã sẽ không còn là gã của bây giờ nữa.

Đẩy cánh cửa khung thép ám khói vang lên tiếng kẽo kẹt, Crowley bắt gặp một bóng dáng quen thuộc đến mức nực cười. Gã đóng cửa, tiến lên trước, bước vào trong vùng sáng duy nhất được tạo ra từ cái cửa sổ may mắn không ám khói. Đối diện với gã là Aziraphale, ngồi yên vị trên một chiếc ghế xám xịt, sau một cái bàn xám xịt và trong một không gian xám xịt. Crowley tự hỏi có phải em đã hì hục vác chiếc bàn từ xó xỉnh khác ra giữa căn hộ để khiến mình trông thật sự nguy hiểm như một tên trùm cuối phim James Bond hay không. Trong bóng tối, gã không thể thấy rõ mặt em nữa.

Lúc này, Aziraphale diện lên người một bộ đồ rất lịch sự. Áo sơ mi tay dài xanh biển, áo vest màu be, khoác thêm một chiếc áo măng tô bên ngoài. Trên cổ em có một cái nơ sọc ca rô, trông thiếu hiện đại đến mức khó hiểu. Chiếc quần cùng màu và đôi giày Oxford quen thuộc cũng được hân hạnh xuất hiện cùng. Hôm nay, em thật giống như em của lần đầu gặp gã.

Thật giống người mà gã đã yêu.

Crowley liếc nhìn lên chiếc bàn ám khói. Trên đó có rất nhiều thứ được cho vào túi zip mỏng, hầu hết đều quá nhỏ hoặc xa để thấy ngoại trừ một con dao. Gã ngước lên nhìn em, tay đút vào túi. Vô tình chạm ngay chiếc hộp vuông, gã lại chột dạ rút tay ra.

"Cảm ơn vì đã đến." Giọng của Aziraphale lấp đầy khoảng không trống trải, vẫn dễ nghe như ngày nào. "Đây là tất cả những chứng cứ mà sở cảnh sát cần, mọi thứ đều đã được xử lý đúng quy trình."

Nói đoạn, em giơ tay lên chỉ vào từng thứ một trên bàn.

"Đây là DNA, dấu vân tay, bản sao của viên kẹo chanh chứa thuốc ngủ, loại độc tôi dùng để giết Smith và Milverton. Hung khí, găng tay, bộ trang phục khi gây án. Dặn Michael đừng để Sandalphon chạm vào bất kì quy trình nào khi phân tích dấu vân tay, anh ta..."

"Em có đang cảm thấy đau đầu không?"

Crowley ngắt lời Aziraphale với một tông giọng mệt mỏi, đôi mắt hổ phách tuyệt vọng tìm kiếm sự hiện diện của người mình yêu. Tay gã đưa lên đầu, vò lấy mớ tóc của mình.

"Tại sao suốt một năm qua... anh chưa từng nhận ra em vẫn luôn bị đau đầu? Là do anh quá vô tâm phải không em? Hay là do..."

Gã để tay xuống, lưng khòm lại, mũi cay xè.

"Hay là do em ghê tởm tình yêu của anh đến mức cảm thấy ngay cả một cơn đau cũng không muốn thành thật thừa nhận với anh?"

Hoá ra, tình yêu của gã và em, không phải hoa, không phải máu. Tình yêu của họ dơ dáy, bẩn thỉu, như bùn đất sình lầy. Ai cũng phải phỉ nhổ khinh miệt.

Từ khi bố mất, cán cân cảm xúc chèo chống gã khỏi suy sụp chỉ còn một bên. Chỉ còn em. Gã biết gã có thể vụt mất em bất cứ lúc nào, vì thế gã vẫn luôn mặc kệ sự thật là em đổi thay rồi.

Giờ đây, gã cũng đã hiểu vì sao những ngày này em trông như không còn yêu gã nữa.

Một khi giết bố gã xong, Aziraphale đã hết lí do để bám víu vào đời. Em đâu còn nghĩ gì về một năm gã trút hết ruột gan ra để yêu em. Em đâu còn quan tâm rằng người bên cạnh em, cái con người ghê tởm, buồn nôn, tội lỗi bên cạnh em đã vì em mà van xin, quỵ luỵ đến mức nào. Em đâu còn muốn sống, vì gã đâu có đủ quan trọng để giữ em lại.

Rồi giờ đây, đối diện với em, nỗi đau của gã làm sao có thể cho gã tư cách để yêu em? Và em lấy tư cách gì mà yêu gã?

Crowley ơi, Crowley à...

Em với gã đi đến bước đường này, có phải là quá nghiệt ngã rồi không?

Bao giờ tên điên như gã mới chịu hiểu ra chứ?

Chúng ta không lạc mất nhau, mà là vốn dĩ bánh răng số phận chưa từng cho phép chúng ta thuộc về nhau.

Aziraphale vẫn im lặng phía sau chiếc bàn được kê trong bóng tối, nhất quyết không ngẩng mặt. Mất một lúc do dự khó hiểu, em đút vào vào túi áo măng tô, lôi ra một khẩu súng lục.

Cả người Crowley lập tức run lên.

Là một khẩu súng. Gã vì nỗi sợ của bản thân mà xóa sổ mọi đồ vật sắc nhọn trong nhà, cuối cùng lại không biết em vẫn giấu cái chết sau lưng như thế.

Gáy gã lạnh toát, lòng bàn tay đổ đầy mồ hôi. Khoé môi chẳng biết vì lí do gì khẽ giật, như mỉa mai, như chế giễu.

Rốt cuộc thì mày làm được cái gì, Anthony?

Sau khi nhìn vào khẩu súng rất lâu, Aziraphale ngước lên, đối diện gã bằng đôi mắt xanh xám thuở nào. Bàn tay sáng nay vừa ấp iu mái tóc gã siết lấy thân súng, rồi với cử chỉ dứt khoát đến mức khiến Crowley đau lòng, em quăng nó về khoảng sáng ngay trước mũi giày gã.

"Cầm súng lên, Anthony J. Crowley."

/

Notes:
Tất cả những tình huống xảy ra trong fanfic đều mang tính chất giả tưởng và không phản ánh tư tưởng của tác giả. Cá nhân tác giả không cổ xuý cho bất kì hành vi xúc phạm tôn giáo nào.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co