Truyen3h.Co

𝐦𝐮𝐥𝐭𝐢-𝐜𝐩 ㄨ tình tự ca

𑣲. ⋮ ✦ 𝐛𝐪𝐯𝐧 ㄨ bèo dạt mây trôi 𐦯

chocochipiee

Cuối thế kỷ XIX, khi những chuyến ghe buôn vẫn ngày đêm xuôi ngược trên khắp các dòng sông miền Trung và Nam Kỳ, có biết bao người rời quê hương để tìm một con đường mưu sinh nơi đất khách. Người mang theo đôi quang gánh, người mang theo chút vốn liếng tích cóp cả đời, lại có người chỉ mang theo vài bộ áo quần cùng một niềm hy vọng mong manh về những ngày tháng đủ đầy hơn phía trước. Giữa dòng người ấy có Bạch Hồng Cường, chàng trai xứ Nghệ lớn lên bên đôi bờ sông Lam hiền hòa.

Hồng Cường là con trai duy nhất của một gia đình nhà nho nghèo. Cha anh quanh năm lấy bút nghiên làm bạn, mở lớp dạy trẻ trong làng để kiếm kế sinh nhai. Mẹ anh tảo tần sớm hôm, vun vén từng đồng bạc lẻ để giữ cho mái nhà tranh khỏi dột nát qua những mùa mưa bão. Gia cảnh tuy chẳng mấy khá giả nhưng trong ngôi nhà nhỏ ấy chưa bao giờ thiếu đi tiếng đọc sách và đạo lý làm người.

Từ thuở còn để chỏm, Hồng Cường đã nổi tiếng khắp vùng bởi nét chữ đẹp như rồng bay phượng múa. Người trong làng thường bảo chữ của anh thanh tú, ngay ngắn như chính tính tình của anh vậy. Càng lớn, Hồng Cường càng tỏ ra điềm đạm và chững chạc hơn bạn đồng trang lứa. Anh ít nói nhưng mỗi lời đều cẩn trọng, ít cười nhưng nụ cười lúc nào cũng ôn hòa khiến người đối diện tự nhiên sinh lòng quý mến. Những năm tháng tuổi trẻ của anh trôi qua lặng lẽ giữa tiếng sóng sông Lam vỗ bờ, giữa mùi giấy mực và những trang sách cũ đã ngả màu thời gian.

Thế nhưng, chữ nghĩa tuy quý giá cũng không thể giúp một gia đình nghèo chống chọi mãi với cảnh túng thiếu. Những năm cuối thế kỷ ấy, cuộc sống ngày một khó khăn. Ruộng đồng mất mùa liên tiếp, dân làng kẻ tha phương cầu thực, người bán bớt gia sản để cầm cự qua ngày. Hồng Cường nhìn mái tóc cha ngày một bạc trắng, nhìn đôi bàn tay gầy guộc của mẹ hằn thêm những vết chai sần, trong lòng không khỏi canh cánh nỗi lo. Thế rồi năm mười chín tuổi, khi tuổi xuân vừa độ đẹp nhất, anh quyết định rời quê. Một người chú họ đang sinh sống tại Quảng Ngãi ngỏ ý muốn đưa anh vào Nam Trung Bộ mở lớp dạy học. Đó là công việc phù hợp với sở học của Hồng Cường, đồng thời cũng là cơ hội để anh kiếm tiền phụ giúp gia đình.

Ngày lên đường, sương sớm còn giăng mờ mặt nước. Con đò nhỏ chòng chành bên bến sông Lam quen thuộc. Hồng Cường đứng trên mũi thuyền, lặng lẽ nhìn về phía mái nhà thấp thoáng sau hàng tre cuối xóm. Dòng sông trước mắt vẫn bình thản như bao năm qua nhưng lòng người lại đầy những nỗi niềm khó gọi thành tên. Con thuyền chầm chậm rời bến. Bóng quê hương dần khuất sau màn sương mỏng. Hồng Cường siết chặt tay nải bên người, mang theo vài bộ áo quần, mấy quyển sách cũ và cả những lời dặn dò của cha mẹ. Anh không biết miền đất mới đang chờ đợi mình điều gì phía trước. Chỉ biết rằng kể từ khoảnh khắc ấy, cuộc đời của chàng trai bên bờ sông Lam đã bắt đầu rẽ sang một dòng chảy khác.

Những ngày đầu đặt chân đến Quảng Ngãi, cuộc sống của Hồng Cường trôi qua khá bình lặng. Ban ngày anh dạy học cho đám trẻ trong vùng, tối đến lại ngồi dưới ngọn đèn dầu leo lét chấm bài, đọc sách. Cuộc sống tuy đạm bạc nhưng ổn định hơn những ngày ở quê nhà. Dần dần, giọng nói xứ Nghệ của anh cũng trở nên quen thuộc với người dân nơi đây, còn hình ảnh chàng thầy đồ trẻ tuổi với dáng vẻ nho nhã, áo dài luôn được giữ gìn tươm tất cũng khiến không ít người yêu quý.

Chính tại mảnh đất ấy, Hồng Cường gặp Lê Bin Thế Vĩ.

Năm ấy, Thế Vĩ vừa tròn mười tám tuổi. Cậu là con trai út trong một gia đình có nhiều đời làm nghề buôn ghe bầu ven biển Sa Kỳ. Từ thuở nhỏ, Thế Vĩ đã quen với vị mặn của gió biển, với tiếng sóng đập vào mạn thuyền mỗi đêm và những chuyến hải trình kéo dài từ Quảng Ngãi vào tận các bến cảng phương Nam. Người dân vùng biển thường bảo cậu sinh ra như thuộc về biển cả. Trong đôi mắt ấy lúc nào cũng thấp thoáng những chân trời xa lạ, những vùng đất chưa từng đặt chân đến. Khác hẳn với vẻ điềm đạm của Hồng Cường, Thế Vĩ mang trong mình sự phóng khoáng của người lớn lên giữa biển trời rộng lớn. Cậu nói năng thẳng thắn, cười cũng lớn tiếng, thích rong ruổi khắp nơi hơn là ngồi yên một chỗ. Trong khi đám bạn cùng trang lứa còn miệt mài dùi mài kinh sử để mong một ngày bước chân vào chốn khoa trường, Thế Vĩ lại thích theo cha ra bến cảng, thích nghe các lái buôn kể chuyện về những miền đất xa xôi hơn là đọc những trang sách dày đặc chữ nghĩa.

Bởi vậy mà lần đầu gặp Hồng Cường, Thế Vĩ đã thấy người nọ thật lạ. Chàng trai xứ Nghệ ấy lúc nào cũng khoan thai, từ cách đi đứng cho đến lời ăn tiếng nói đều mang vẻ từ tốn hiếm thấy. Ngay cả lúc ngồi viết chữ, sống lưng cũng thẳng tắp như thân trúc. Đối với Thế Vĩ, Hồng Cường giống như một quyển sách cổ được cất giữ cẩn thận trong tủ gỗ, chỉ cần nhìn thôi cũng thấy yên tĩnh. Còn Hồng Cường, mỗi lần trông thấy Thế Vĩ đều không khỏi ngạc nhiên trước nguồn sinh khí dường như chẳng bao giờ cạn ở người kia. Chàng trai miền biển ấy lúc nào cũng xuất hiện cùng tiếng cười rộn rã, cùng mùi nắng gió và hơi muối mằn mặn còn vương trên áo. Đứng cạnh Thế Vĩ, anh có cảm giác như đang đứng trước một cơn gió lớn từ biển khơi thổi tới, tự do và mạnh mẽ đến mức chẳng điều gì có thể giữ chân.

Xét cho cùng, họ vốn là hai con người thuộc về hai thế giới khác biệt. Một người lớn lên bên dòng sông Lam trầm lặng, quen sống cùng sách vở và những khuôn phép của gia đình nhà nho. Một người trưởng thành giữa biển Sa Kỳ lộng gió, quen nhìn những cánh buồm căng gió hơn là những trang sách thánh hiền. Một người mang dáng vẻ của dòng sông hiền hòa chảy qua bao mùa mưa nắng, một người lại giống như biển cả rộng lớn, lúc dịu êm, lúc cuộn trào không đoán trước được.

Ấy vậy mà duyên phận trên đời vốn là thứ khó lòng lý giải.

Giữa hàng ngàn người xuôi ngược trên những bến sông, bến biển năm ấy, họ lại gặp được nhau. Không phải trong một cuộc tao ngộ được sắp đặt từ trước, cũng chẳng phải giữa những biến cố lớn lao làm rung chuyển cuộc đời. Chỉ đơn giản là giữa một miền đất xa lạ đối với cả hai, có hai người trẻ tuổi vô tình bước vào cuộc sống của nhau. Về sau mỗi khi nhớ lại, Hồng Cường thường nghĩ rằng có lẽ con sông Lam quê anh đã đi một quãng đường rất dài để gặp được biển Sa Kỳ của Thế Vĩ. Bởi nếu không phải là duyên trời định sẵn thì làm sao một người từ miền sông nước xa xôi và một người của biển cả nắng gió lại có thể trở thành một phần không thể thiếu trong những năm tháng thanh xuân của nhau đến thế.

Lần đầu tiên họ gặp nhau là vào một đêm trăng sáng.

Đó là một đêm đầu hạ, gió từ cánh đồng xa thổi về mang theo hương lúa non dìu dịu. Biển Sa Kỳ vừa yên sóng sau nhiều ngày gió lớn. Ánh trăng trải dài trên mặt nước như một dải lụa bạc, từ ngoài khơi kéo thẳng vào tận những mái nhà ven bến. Xa xa, vài chiếc ghe bầu vừa cập bờ vẫn còn thấp thoáng bóng người thu dọn hàng hóa. Tiếng sóng vỗ nhè nhẹ hòa cùng tiếng dế kêu trong những bụi cỏ ven đường khiến đêm khuya mang một vẻ thanh bình hiếm có. Trong căn nhà trọ nhỏ nằm gần chợ huyện, Bạch Hồng Cường ngồi bên chiếc bàn gỗ kê trước hiên. Ngọn đèn dầu đặt cạnh nghiên mực tỏa ra thứ ánh sáng vàng nhạt. Anh đang cặm cụi chép lại một quyển sách đã cũ, thỉnh thoảng lại dừng bút ngâm khe khẽ vài câu thơ để nhớ ý.

Giọng Nghệ An trầm và chậm rãi vang lên giữa màn đêm.

"Thuyền ai thấp thoáng bên sông,

Trăng soi mặt nước mà lòng nhớ quê."

Hồng Cường đọc xong, tự mình mỉm cười. Nỗi nhớ quê vẫn vậy, chẳng vì quãng đường xa mà vơi đi được bao nhiêu. Đúng lúc ấy, ngoài hàng rào tre bỗng có tiếng người.

"Răng mà thơ nghe lạ tai dữ rứa?"

Ngòi bút trong tay Hồng Cường khựng lại. Anh ngẩng đầu lên. Dưới ánh trăng, một chàng trai trẻ đang đứng dựa bên cột rào. Áo ngắn màu nâu còn vương vài vệt muối biển. Mái tóc hơi rối vì gió, trên vai vẫn khoác chiếc khăn dùng khi đi ghe. Đôi mắt sáng và nụ cười lại càng nổi bật dưới ánh trăng. Thấy chủ nhà nhìn mình, người kia cũng chẳng có vẻ ngại ngùng.

"Xin lỗi nghen. Tui đi ngang nghe tiếng đọc thơ nên đứng lại nghe một chút."

"Không sao." Hồng Cường đặt bút xuống.

"Anh không phải người Quảng hỉ?" Người nọ bước thêm vài bước lại gần.

"Tôi người Nghệ An."

Giọng nói mang đậm âm sắc địa phương khiến Hồng Cường phải mất một lúc mới nghe quen. Đôi mắt đối diện lập tức sáng lên.

"Tui đoán đúng thiệt. Hèn chi giọng nghe khác quá chừng."

Hồng Cường nhìn vẻ mặt đầy hứng thú ấy, bất giác thấy buồn cười.

"Giọng tôi khó nghe lắm sao?"

"Không có." Chàng trai trẻ lắc đầu ngay. "Nghe hay mà. Tui chưa từng nghe ai nói giọng như rứa. Hồi nãy anh đọc thơ, tui đứng ngoài đường nghe một hồi mới biết là tiếng Việt đó."

Nói xong, chính cậu ta cũng bật cười. Tiếng cười giòn tan vang giữa đêm vắng. Hồng Cường cũng không nhịn được mà cong khóe môi. Đó là lần đầu tiên từ khi rời quê vào Quảng Ngãi, anh cảm thấy thoải mái đến vậy khi trò chuyện với một người xa lạ. Người kia thấy anh cười thì càng mạnh dạn hơn.

"Tui tên Lê Bin Thế Vĩ. Nhà ở gần bến Sa Kỳ. Mới theo ghe từ ngoài biển về." Nói rồi cậu chỉ tay về phía biển xa xa như sợ người khác không tin. "Còn anh?"

"Bạch Hồng Cường."

"Hồng Cường..." Thế Vĩ lẩm nhẩm đọc lại cái tên vài lần. "Tên hay dữ ha."

Hồng Cường khẽ ho một tiếng.

"Tui nói thiệt mà. Từ tên cho tới chữ viết đều đẹp." Thế Vĩ đáp tỉnh bơ. Ánh mắt cậu vô tình rơi xuống trang giấy trên bàn. "Ủa, chữ ni là anh viết đó à?"

"Không tôi chứ ai."

"Đẹp dữ thần." Thế Vĩ cúi xuống nhìn kỹ hơn. "Chữ ni mà đem bán chắc được khối tiền."

Nghe vậy, Hồng Cường bật cười thành tiếng. Một tiếng cười khẽ nhưng đủ khiến Thế Vĩ ngẩn người. Bởi từ lúc đứng đây đến giờ, cậu luôn thấy người trước mặt giống như một hồ nước tĩnh lặng. Thế nhưng khi cười lên, nét lạnh nhạt trên gương mặt ấy bỗng tan đi rất nhiều.

"Anh cười coi bộ đẹp hơn lúc nghiêm nữa đó." Câu nói buột miệng khiến cả hai cùng sững lại. Thế Vĩ gãi đầu cười trừ. "Ý tui là... nhìn dễ gần hơn."

Hồng Cường không đáp. Anh cúi xuống thu lại trang giấy trên bàn nhưng khóe môi vẫn còn vương ý cười. Gió biển thổi qua hiên nhà mang theo mùi mặn của sóng nước. Trăng vẫn sáng vằng vặc trên cao. Hai người ngồi nói chuyện thêm rất lâu. Một người kể về biển cả, về những chuyến ghe đi tận Bình Định, Phú Yên rồi xuôi vào Nam Kỳ. Một người kể về sông Lam, về những mùa lũ trắng trời xứ Nghệ và những đêm thức dưới ngọn đèn dầu học chữ. Đến khi nhận ra đã quá khuya, Thế Vĩ mới đứng dậy.

"Thôi, tui về nghen. Bữa khác ghé nghe anh đọc thơ tiếp."

"Bộ không thấy chán à?"

"Không có chán. Với lại..." Thế Vĩ cười. Cậu ngập ngừng một chút rồi nói. "Ở đây hiếm ai nói giọng Nghệ như anh lắm."

Nói xong, cậu vẫy tay rồi bước đi. Dáng người cao gầy nhanh chóng hòa vào con đường ngập ánh trăng dẫn ra phía biển. Hồng Cường ngồi lại một mình nơi hiên nhà. Trên bàn, ngọn đèn dầu vẫn cháy lặng lẽ. Anh cầm bút lên định viết tiếp nhưng không hiểu sao lại nhìn về phía con đường mà người kia vừa khuất bóng.

Trong đêm trăng xứ Quảng năm ấy, cả Hồng Cường lẫn Thế Vĩ đều không biết rằng cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ ấy rồi sẽ trở thành khởi đầu cho một mối duyên kéo dài suốt những năm tháng đẹp nhất của tuổi trẻ. Chỉ biết rằng từ sau đêm hôm đó, chàng trai miền biển thường xuyên ghé qua căn nhà trọ nhỏ còn vị thầy đồ xứ Nghệ cũng dần quen với việc mỗi tối ngước mắt nhìn ra cổng, chờ nghe một giọng nói Quảng Ngãi quen thuộc vang lên giữa tiếng gió biển xa xa.

Từ sau đêm trăng hôm ấy, Lê Bin Thế Vĩ quả thật trở thành khách quen của căn nhà trọ nhỏ nơi Hồng Cường đang ở. Ban đầu chỉ là ghé ngang vài câu. Có khi đi qua thấy đèn còn sáng, cậu dừng lại ngoài cổng hỏi vọng vào.

"Thầy Cường chưa ngủ hả?"

Nghe riết rồi quen, Hồng Cường cũng chẳng còn ngạc nhiên mỗi khi thấy bóng dáng quen thuộc xuất hiện trước hiên nhà vào buổi tối. Có hôm Thế Vĩ vừa từ bến ghe trở về, áo còn vương mùi nước biển, đã ghé qua ngồi một lát. Có hôm chẳng có chuyện gì đặc biệt, cậu cũng tìm cớ đến hỏi vài câu vu vơ rồi mới chịu về. Người trong xóm dần quen với cảnh ấy. Ai đi ngang cũng thấy một chàng trai miền biển ngồi chống cằm nghe thầy đồ trẻ đọc sách, thỉnh thoảng chen vào vài câu khiến người nọ phải bật cười.

Thế Vĩ vốn chẳng thích chữ nghĩa. Những cuốn sách chất đầy trên bàn của Hồng Cường đối với cậu chẳng khác gì những ký hiệu khó hiểu. Thế nhưng điều lạ lùng là cậu lại rất thích nghe Hồng Cường đọc. Có lẽ bởi giọng nói xứ Nghệ ấy mang một âm điệu riêng. có gì đó chậm rãi và trầm ấm tựa như nước sông lững lờ trôi giữa những chiều quê yên ả. Nghe nhiều thành quen, quen rồi lại thành nhớ. Có những hôm ghe về muộn, Thế Vĩ vừa đặt chân lên bờ đã vô thức nhìn về phía ngôi nhà nhỏ nơi cuối con đường đất. Nếu thấy ánh đèn còn sáng, trong lòng liền thấy vui hơn một chút. Còn Hồng Cường dù ngoài mặt chẳng biểu lộ điều gì nhưng mỗi khi trời tối mà không thấy người kia ghé qua, anh cũng bất giác nhìn ra cổng thêm vài lần.

Và có những thói quen chỉ thuộc về đối phương đã được hình thành. Mỗi lần theo ghe ra khơi trở về, Thế Vĩ đều mang theo thứ gì đó. Khi thì mấy con cá nục vừa đánh được trong ngày. Khi thì một xâu mực khô treo lủng lẳng trên tay. Có hôm còn mang tới cả một giỏ sò. Hồng Cường nhìn đống đồ chất đầy trên bàn mà dở khóc dở cười.

"Cậu định biến chỗ tôi thành cái chợ cá hay sao?"

"Có gì đâu." Thế Vĩ ngồi xuống ghế, tỉnh bơ đáp lại. "Tui thấy ngon nên đem cho anh thôi."

"Tôi ăn một mình sao hết được từng này?"

"Không ăn hết thì chia cho hàng xóm." Rồi cậu chống cằm cười. "Người ta cho quà mà còn chê nữa."

"Cậu đó..." Hồng Cường lắc đầu bất lực.

Mỗi lần như vậy, anh lại lấy trong tủ ra ít trà ngon hoặc vài quyển sách cũ để đáp lễ. Thế nhưng Thế Vĩ chẳng hứng thú mấy với sách. Điều cậu thích hơn là những câu chuyện, nhất là những câu chuyện về quê hương của Hồng Cường. Những đêm trăng sáng, hai người thường ngồi trước hiên nhà hoặc dưới gốc cây bàng già đầu ngõ. Biển đêm thổi gió vào mang theo vị mặn của sóng nước. Thế Vĩ ngồi nghe Hồng Cường kể về dòng sông Lam quanh năm lững lờ chảy qua những làng quê xứ Nghệ, kể về núi Hồng xa xa mỗi chiều phủ một màu tím nhạt và kể về những mùa gió Lào nóng bỏng, thổi qua đồng ruộng làm cỏ cây cũng héo đi vì khát. Thế Vĩ nghe đến đâu tưởng tượng đến đó.

"Thiệt có thứ gió nóng tới rứa hả?"

Hồng Cường chỉ gật đầu.

"Rứa mới nói." Thế Vĩ chống tay ra sau lưng, ngước nhìn bầu trời. "Người miền biển tụi tui chịu được nắng, chịu được gió. Chớ bảo lên núi hay vô vùng gió Lào chắc chịu thua."

"Sau này anh có về Nghệ An không?" Ngừng một lát, cậu quay sang hỏi/

"Có lẽ sẽ về." Ánh mắt Hồng Cường khựng lại đôi chút.

"Khi nào?"

"Tôi cũng không biết."

Một khoảng lặng rất ngắn chen vào giữa hai người. Tiếng sóng biển vọng từ xa tới. Thế Vĩ cúi đầu nghịch mấy hòn sỏi dưới chân.

"Ờ."

Không hiểu sao Hồng Cường lại nghe được chút hụt hẫng trong đó. Những ngày sau, Thế Vĩ lại nghĩ ra một thú vui mới. Cậu thích kéo Hồng Cường ra biển, nhất là những đêm trăng sáng. Ban đầu Hồng Cường từ chối.

"Ra biển làm gì?"

"Thì ra ngắm biển."

"Biển có gì mà ngắm hoài?"

"Anh nhìn riết sách còn không chán, răng biển tui nhìn riết lại chán được?"

Lý lẽ ấy khiến Hồng Cường không biết đáp thế nào nên cuối cùng vẫn bị kéo đi. Biển đêm khi ấy thường đã vắng người. Những chiếc ghe nằm im bên bờ cát. Xa xa chỉ còn vài đốm đèn leo lét trên mặt nước. Thế Vĩ cởi dép, chân trần bước trên cát. Còn Hồng Cường đi phía sau, tà áo bị gió biển thổi tung từng đợt.

"Anh nhanh lên coi!" Thế Vĩ ngoái đầu gọi. "Đi kiểu ni tới sáng cũng chưa tới mép nước."

"Tôi đâu có quen chạy trên cát như cậu."

"Vậy thì tập dần."

Nói rồi cậu bất ngờ quay lại nắm lấy cổ tay Hồng Cường kéo đi. Mọi chuyện diễn ra quá nhanh khiến anh không kịp phản ứng. Bàn tay người miền biển mang theo hơi nóng và chút chai sần của những tháng ngày lênh đênh trên ghe. Hồng Cường thoáng sững người còn Thế Vĩ dường như chẳng nhận ra điều gì. Cậu chỉ cười rất tươi dưới ánh trăng.

"Thấy chưa? Đi vậy mới nhanh."

Gió biển lồng lộng thổi qua. Sóng bạc đầu nối nhau tràn vào bờ cát rồi lại rút đi. Hồng Cường nhìn bóng lưng người phía trước, bất giác thấy lòng mình dịu lại. Giữa miền đất xa lạ này, giữa những năm tháng tha hương còn nhiều bấp bênh, anh chưa từng nghĩ sẽ có một ngày mình gặp được một người như Thế Vĩ. Người ấy giống như biển cả quê nhà. Lúc nào cũng rộng rãi, chân thành và đầy sức sống. Mà điều khiến Hồng Cường không ngờ nhất là từ lúc nào đó, những đêm không nghe tiếng người kia gọi hai tiếng "Hồng Cường", biển đêm dường như cũng trở nên vắng lặng hơn rất nhiều.

Những ngày tháng sau đó trôi qua êm đềm như nước thủy triều lên xuống nơi bến biển Sa Kỳ.

Ban đầu, họ chỉ kể cho nhau nghe những câu chuyện về quê hương. Hồng Cường kể về dòng sông Lam hiền hòa ôm lấy những làng quê xứ Nghệ, về núi Hồng sừng sững giữa trời mây, về những mùa gió Lào khô nóng thổi qua cánh đồng làm đất đai nứt nẻ. Anh kể bằng giọng nói chậm rãi và trầm ấm của mình như thể từng ký ức đều được nâng niu cất giữ trong lòng từ rất lâu. Thế Vĩ lại kể về biển. Cậu ể về những chuyến ghe bầu căng buồm ra khơi từ lúc trời còn chưa sáng, về những đêm lênh đênh giữa sóng nước chỉ thấy trăng treo lơ lửng trên đầu, về những lần gặp giông gió giữa biển khơi khiến ai nấy đều phải nín thở cầu trời. Những câu chuyện của cậu lúc nào cũng mang theo hơi mặn của biển và sự phóng khoáng của những người quen sống giữa trời cao nước rộng.

Rồi từ chuyện quê hương, họ bắt đầu kể cho nhau nghe những chuyện riêng tư hơn.

Hồng Cường kể về cha mẹ già nơi quê nhà, về những năm tháng đèn sách dưới mái nhà tranh đơn sơ, về áp lực của một người con trai duy nhất luôn mang trên vai trách nhiệm với gia đình. Thế Vĩ kể về tuổi thơ rong ruổi ngoài bến cảng, về những lần bị cha trách phạt vì ham chơi hơn học hành, về những giấc mơ được đi thật xa, nhìn thấy những vùng đất ngoài đường chân trời.

Dần dần, họ trở thành người hiểu nhau nhất.

Có những điều chẳng thể nói với người thân trong nhà, lại có thể bình thản kể cho người kia nghe dưới một đêm trăng sáng. Có những tâm sự tưởng như sẽ giữ kín cả đời, cuối cùng cũng được giãi bày bên tiếng sóng biển rì rào. Những đêm như thế ngày một nhiều hơn. Biển về khuya thường rất vắng. Bãi cát trải dài dưới ánh trăng như được phủ một lớp bạc mỏng. Tiếng sóng nối tiếp nhau xô vào bờ rồi lặng lẽ rút đi, để lại những vệt nước lấp lánh dưới ánh trăng. Thế Vĩ luôn là người kéo Hồng Cường ra biển. Ban đầu chỉ là đi dạo. Sau đó lại thành những cuộc nô đùa trẻ con mà chính Hồng Cường cũng không hiểu vì sao mình lại tham gia.

Có lần Thế Vĩ bất ngờ hất nước biển vào người anh rồi bỏ chạy. Hồng Cường hiếm khi nổi nóng, vậy mà hôm ấy cũng phải đuổi theo cậu một đoạn dài trên bãi cát. Tiếng cười của cả hai hòa lẫn trong tiếng sóng, vang xa giữa màn đêm yên tĩnh. Có lần khác, khi thủy triều rút xuống, họ cùng đi dọc bờ biển nhặt những vỏ sò bị sóng đánh dạt vào bờ. Thế Vĩ nhặt được một chiếc vỏ ốc nhỏ màu trắng, nhất quyết nhét vào tay Hồng Cường rồi bảo đó là vật may mắn. Những lúc vui đùa như thế, khoảng cách giữa hai người dường như cũng biến mất. Bàn tay vô thức chạm vào nhau rồi có những lần nắm lấy tay nhau để kéo người kia vượt qua một mỏm đá trơn trượt.

Ban đầu chẳng ai để tâm nhưng rồi dần dần, những cái chạm ấy không còn đơn thuần như trước nữa. Có những lúc Thế Vĩ nắm lấy cổ tay Hồng Cường, trong lòng bỗng xuất hiện cảm giác lưu luyến khó gọi thành tên. Đến khi buông ra, cậu lại thấy trống trải một cách lạ lùng. Thời gian cứ thế lặng lẽ trôi đi. Cho đến một ngày, cả hai đều nhận ra rằng đối phương đã hiện diện trong lòng mình từ lúc nào chẳng hay.

Riêng Thế Vĩ, cảm nhận ấy đến trước. Có lẽ bởi cậu là người sống theo cảm xúc, yêu ghét đều rõ ràng như gió biển quê mình. Một buổi tối nọ, khi cả hai đang ngồi trên bãi cát nhìn mặt trăng treo lơ lửng ngoài khơi, Hồng Cường bỗng bật cười vì một câu chuyện nào đó. Khóe môi hơi cong lên, đôi mắt vốn điềm tĩnh cũng ánh lên nét dịu dàng hiếm thấy. Thế Vĩ nhìn người bên cạnh rồi bất giác ngẩn ra. Ánh trăng rơi trên gương mặt thanh tú ấy, phủ lên từng đường nét một thứ ánh sáng dịu dàng như sương. Lần đầu tiên, cậu nhận ra Hồng Cường đẹp đến thế, là vẻ đẹp càng ngắm càng thấy lưu luyến, càng ở gần càng không nỡ rời xa.

Thế Vĩ lặng người nhìn rất lâu. Trong lồng ngực, trái tim bỗng đập nhanh hơn bình thường. Tiếng sóng vẫn đều đặn ngoài khơi, tiếng gió vẫn thổi qua bãi cát nhưng mọi thứ sao mà dường như đều trở nên xa xôi đến thế. Cậu chỉ còn nhìn thấy người ngồi bên cạnh. Và lần đầu tiên trong đời, chàng trai miền biển hiểu được cảm giác nhớ một người ngay cả khi người ấy vẫn đang ở trước mặt mình. Bởi chỉ cần nghĩ đến một ngày nào đó Hồng Cường rời Quảng Ngãi, trở về với dòng sông Lam xa xôi, lòng cậu đã thấy nhói lên như bị sóng ngầm kéo xuống đáy biển. Có lẽ từ rất lâu rồi, hình bóng của người thầy đồ xứ Nghệ ấy đã lặng lẽ neo lại trong tim cậu, giống như một con thuyền đã tìm được bến đỗ mà chính chủ nhân của nó cũng chưa từng hay biết.

Ba năm ấy trôi qua nhanh đến mức chính họ cũng không nhận ra. Ba năm đủ để một chàng trai mười tám tuổi trở thành người đàn ông quen gánh vác việc nhà. Ba năm cũng đủ để một người tha hương xem miền đất xa lạ là quê hương thứ hai của mình. Mùa hạ nối tiếp mùa hạ. Những đêm trăng bên biển Sa Kỳ vẫn sáng như thuở đầu gặp gỡ. Thế Vĩ vẫn thường mang cá tươi, mực khô đến cho Hồng Cường. Còn Hồng Cường vẫn ngồi dưới ngọn đèn dầu chép sách, đọc thơ và kể cho cậu nghe những câu chuyện về quê nhà cách đó hàng trăm dặm.

Trong ba năm ấy, không ai nói ra điều gì nhưng cũng chẳng cần phải nói. Bởi ánh mắt nhìn nhau đã thay đổi từ rất lâu rồi. Có những buổi chiều Thế Vĩ vừa từ biển trở về, việc đầu tiên làm không phải là về nhà mà là ghé qua tìm Hồng Cường. Chỉ cần thấy người nọ đang ngồi trước hiên nhà, trong lòng cậu liền cảm thấy yên ổn. Có những đêm Hồng Cường thức khuya chấm bài. Vừa nghe thấy tiếng bước chân quen thuộc ngoài cổng, khóe môi đã bất giác cong lên trước cả khi ngẩng đầu nhìn. Mọi thứ tự nhiên đến mức tưởng như cuộc sống sẽ mãi mãi như vậy.

Thế nhưng đời người vốn chẳng phải bài thơ có thể viết theo ý muốn. Năm ấy, biến cố đến vào một ngày đầu thu. Một cánh thư từ Nghệ An được gửi vào Quảng Ngãi. Lúc người đưa thư mang tới, Hồng Cường vẫn đang dạy học. Anh nhận lấy thư, vừa nhìn nét chữ bên ngoài đã cảm thấy lòng mình nặng xuống. Đó là thư của người họ hàng ở quê. Bức thư không quá dài nhưng từng dòng chữ đều khiến sắc mặt anh nhợt đi. Người chú đã đưa anh vào Quảng Ngãi năm nào vừa qua đời sau một cơn bạo bệnh. Cùng lúc ấy, ngoài quê nhà, mẹ anh cũng lâm bệnh nặng. Tuổi già, bệnh tật và những tháng ngày lao lực khiến bà ngày một suy yếu. Trong thư, người thân chỉ viết ngắn gọn rằng bà luôn nhắc tên con trai, mong được gặp anh một lần.

Hồng Cường ngồi lặng rất lâu. Tờ giấy trong tay anh khẽ run lên. Ngoài sân, lũ học trò vẫn ríu rít đùa nghịch như mọi ngày. Nắng chiều vẫn nhuộm vàng những tán cây. Đêm hôm đó, lần đầu tiên sau nhiều năm, Hồng Cường ngồi một mình ngoài hiên mà không đọc sách. Ngọn đèn dầu cháy leo lét bên cạnh. Ánh mắt anh hướng về phương Bắc xa xôi, nơi ấy có dòng sông Lam, có mái nhà cũ kỹ và có người mẹ đang từng ngày chờ con trở về. Tiếng bước chân quen thuộc vang lên ngoài cổng. Thế Vĩ vừa tới đã nhận ra điều bất thường.

"Hôm ni răng ngồi im rứa?" Cậu bước vào sân. Không nghe thấy câu trả lời quen thuộc, nụ cười trên môi cũng dần tắt. "Có chuyện chi à?"

Hồng Cường cúi đầu nhìn lá thư trong tay. Một lúc lâu sau anh mới khẽ nói.

"Có lẽ anh phải về Nghệ An rồi."

Thế Vĩ khựng lại. Gió biển vẫn thổi qua khoảng sân nhỏ. Nhưng trong khoảnh khắc ấy, cậu chỉ nghe thấy tiếng tim mình đập mạnh trong lồng ngực.

"Anh sẽ về bao lâu?"

Câu hỏi vừa cất lên, Thế Vĩ đã biết mình hỏi một điều chẳng ai trả lời được. Hồng Cường chỉ im lặng bởi có lẽ chính anh cũng thể không biết. Cha già yếu, mẹ bệnh nặng, đến cả người chú thân thiết cũng đã mất. Gia đình ngoài ấy chỉ còn trông cậy vào mình anh. Sau một lúc rất lâu, anh mới đáp lại Thế Vĩ.

"Có lẽ sẽ lâu lắm."

Thế Vĩ cúi đầu. Bàn tay đặt trên đầu gối khẽ siết lại. Ba năm qua, cậu vẫn luôn biết sẽ có ngày này. Nhưng biết là một chuyện, đối mặt với nó lại là chuyện khác. Bầu trời đêm hôm ấy không có mây. Trăng vẫn sáng như những đêm họ từng ngồi bên nhau trên bãi biển. Thế nhưng chẳng ai còn tâm trạng để ngắm trăng nữa. Cả hai đều hiểu kể từ khoảnh khắc bức thư ấy được mở ra, những tháng ngày bình yên nơi biển Sa Kỳ đã bắt đầu đi đến hồi kết. Và điều khiến họ sợ nhất không phải là cuộc chia ly đang đến gần mà là không ai biết sau lần từ biệt này, liệu còn có cơ hội gặp lại nhau hay không. Trong thời buổi đường sá cách trở, thư từ thất lạc là chuyện thường tình còn đời người thì quá dài để hứa hẹn nhưng cũng quá ngắn để chờ đợi mãi một ai đó. Chỉ là đêm ấy, ngồi dưới ánh trăng quen thuộc, cả Hồng Cường lẫn Thế Vĩ đều không nỡ nói ra điều đó. Bởi có những lời một khi cất lên sẽ khiến cuộc chia ly trở thành sự thật. Và đôi khi, con người ta vẫn muốn được ở lại thêm một chút trong những ngày tháng chưa kịp mất đi.

Ngày Hồng Cường rời Quảng Ngãi, bến cảng Sa Kỳ đông hơn thường lệ. Những chiếc ghe bầu nối nhau neo dọc mép nước. Tiếng người khuân vác hàng hóa, tiếng gọi nhau í ới, tiếng sóng đập vào mạn thuyền hòa lẫn thành một âm thanh quen thuộc của miền biển. Dưới bầu trời trong xanh đầu thu, người đi kẻ ở vẫn tất bật như mọi ngày, chẳng ai biết rằng giữa dòng người ấy có một cuộc chia ly đang lặng lẽ diễn ra. Hành trang của Hồng Cường không có nhiều. Vài bộ quần áo, mấy quyển sách cũ đã theo anh suốt những năm tháng tha hương và một ít quà cáp của bà con lối xóm gửi tặng trước lúc lên đường.

Ba năm ở Quảng Ngãi không quá dài so với một đời người. Thế nhưng khi đứng giữa bến cảng quen thuộc ấy, anh mới nhận ra mình đã để lại nơi đây quá nhiều kỷ niệm. Thế Vĩ đến từ rất sớm. Cậu đứng bên cạnh Hồng Cường từ lúc mặt trời còn chưa lên cao. Suốt cả buổi, hai người chẳng nói được bao nhiêu. Có những lúc tưởng như muốn nói điều gì đó nhưng rồi lại thôi. Bởi những lời cần nói dường như đã chất đầy trong lòng, nhiều đến mức không biết phải bắt đầu từ đâu. Mấy năm qua, họ đã quen với việc ngồi bên nhau dưới ánh trăng, quen với những câu chuyện kéo dài đến tận khuya, quen với sự hiện diện của đối phương trong cuộc sống mình. Vậy mà đến ngày phải chia xa, mọi ngôn từ lại trở nên vụng về đến lạ.

Thế Vĩ không bảo anh ở lại. Hồng Cường cũng không hứa sẽ quay về. Bởi cả hai đều hiểu thời thế của mình. Ở thời đại ấy, hai người đàn ông không thể nắm tay nhau giữa chốn đông người rồi nói những lời lưu luyến như trong những câu chuyện tình mà người đời vẫn kể. Họ càng không thể ngang nhiên hẹn thề hay đòi hỏi đối phương phải chờ đợi mình suốt những năm tháng chưa biết ngày trở lại. Có những tình cảm chỉ có thể cất giấu trong lòng.

Chiếc ghe chuẩn bị nhổ neo. Tiếng người gọi nhau bắt đầu dồn dập hơn. Hồng Cường nhìn mặt nước loang loáng nắng sớm rồi quay sang người đứng cạnh. Trong ba năm qua, Thế Vĩ dường như chẳng thay đổi nhiều. Vẫn là đôi mắt sáng ấy, vẫn là dáng vẻ phóng khoáng của chàng trai lớn lên cùng biển cả, chỉ có điều hôm nay, trong ánh mắt ấy không còn nét vô tư của những ngày tháng trước. Một lúc rất lâu sau, Thế Vĩ mới lên tiếng. Giọng cậu bình thản đến mức tưởng như chỉ đang hỏi một chuyện vu vơ.

"Ngoài Nghệ An... có trăng không anh?"

Hồng Cường khẽ ngẩn người. Thế rồi anh bật cười.

"Hỏi câu ngốc thế. Ở đâu mà chẳng có."

Gió biển khẽ thổi qua. Thế Vĩ cúi đầu nhìn những con sóng đang vỗ vào chân cầu cảng. Một lúc sau cậu mới cười theo người kia.

"Ừ hè." Cậu ngước mắt nhìn người trước mặt. Đôi mắt đen ánh lên thứ cảm xúc mà suốt ba năm qua chưa từng gọi thành tên. "Vậy sau ni nhớ nhìn trăng."

Hồng Cường im lặng mà Thế Vĩ cũng không nói thêm. Thế mà cả hai đều hiểu ý nghĩa của câu nói ấy. Bởi suốt những năm tháng bên nhau, có biết bao đêm họ đã cùng ngồi dưới ánh trăng. Ấy là anh trăng trên biển Sa Kỳ, là ánh trăng trong những câu chuyện về sông Lam và là ánh trăng chứng kiến những lần gặp gỡ, những tiếng cười, những rung động đầu đời mà không ai đủ can đảm thừa nhận. Sau này, dù một người ở biển Quảng Ngãi, một người ở tận miền quê xứ Nghệ xa xôi, họ vẫn sẽ cùng nhìn thấy một vầng trăng ấy. Khoảng cách có thể ngăn những bước chân nhưng không thể ngăn ánh trăng đi từ biển đến sông, từ phương Nam ra phương Bắc.

Nhìn về trăng tức là nhìn về em, nhìn về chúng ta. Nhớ về trăng tức là nhớ về em, nhớ về chúng ta.

"Được." Hồng Cường nhìn Thế Vĩ rất lâu rồi mới khẽ gật đầu.

Cuối cùng cũng chẳng có "đợi anh" hay "đừng quên em" nào, cũng chẳng có những lời thề non hẹn biển. Những gì còn sót lại chỉ có một vầng trăng lặng lẽ treo giữa trời cao. Và hai người trẻ tuổi đứng giữa bến cảng đông đúc, đem tất cả những điều không thể nói gửi vào ánh trăng ấy.Rồi chiếc ghe chầm chậm rời bến. Tiếng sóng vỗ mạnh hơn dưới mạn thuyền. Hồng Cường đứng trên boong nhìn về phía bờ. Thế Vĩ vẫn đứng đó. Dáng người cao gầy quen thuộc giữa vô số bóng người đưa tiễn cho đến khi bóng người trên ghe chỉ còn là một chấm nhỏ giữa mặt nước mênh mang.

Từ đó về sau, mỗi khi đêm xuống, mỗi lần ngẩng đầu nhìn vầng trăng treo trên bầu trời xứ Nghệ, anh đều biết rằng ở một nơi rất xa phía Nam, bên bờ biển Sa Kỳ đầy gió cũng có một người đang nhìn về vầng trăng ấy. Nhìn trăng là nhìn về người. Nhìn trăng là nhìn về những năm tháng thanh xuân đã từng có nhau. Và nhìn trăng, cũng là nhìn về một lời hẹn không tên, không ngày trở lại nhưng lại được cả hai gìn giữ suốt cả cuộc đời.

Sau khi trở về Nghệ An, Hồng Cường không đi đâu nữa. Người mẹ mà anh vội vã trở về gặp mặt cuối cùng cũng qua khỏi cơn nguy kịch nhưng sức khỏe không còn được như trước. Cha anh cũng ngày một già yếu. Là con trai duy nhất trong nhà, Hồng Cường đành ở lại, gác lại những dự định còn dang dở để chăm sóc song thân. Những ngày tháng ấy trôi qua chậm rãi như dòng sông Lam trước cửa làng. Ban ngày anh mở lớp dạy học cho trẻ con trong vùng. Chiều về lại phụ cha mẹ việc đồng áng, thuốc thang. Cuộc sống tuy vất vả nhưng cũng bình yên đến lạ. Chỉ có điều, mỗi khi đêm xuống, khi ánh trăng dần nhô lên khỏi lũy tre cuối xóm, anh vẫn thường ngẩng đầu nhìn rất lâu. Bởi ở một nơi cách đó hàng trăm dặm, có lẽ Thế Vĩ cũng đang nhìn lên vầng trăng ấy.

Lá thư đầu tiên từ Quảng Ngãi gửi đến vào một buổi chiều cuối năm. Lá thư đầu tiên từ Quảng Ngãi gửi đến vào một buổi chiều cuối năm. Nét chữ của Thế Vĩ không đẹp, thậm chí còn hơi xiêu vẹo. Ngày trước mỗi lần thấy cậu viết, Hồng Cường đều phải lắc đầu. Vậy mà hôm ấy, chỉ nhìn thấy hàng chữ nguệch ngoạc bên ngoài, lòng anh đã bất giác cảm thấy vui vui khó tả. Bức thư Thế Vĩ không quá dài, mà cũng chẳng có gì quá đặc biệt. Thế Vĩ kể rằng biển vẫn như cũ, nhà cậu cũng vẫn vậy, chẳng có gì đổi khác, chỉ là mỗi lần đi ngang qua căn nhà trọ năm nào đều cảm thấy thiếu thiếu điều gì đó. Cuối thư, Thế Vĩ còn nói với anh rằng:

"Đêm qua trăng sáng dữ lắm. Em ngồi ngoài bãi biển nhìn một hồi. Không biết ngoài Nghệ An anh có thấy không."

Chỉ một câu đơn giản như vậy mà lại khiến Hồng Cường phải đọc đi đọc lại rất nhiều lần. Đêm hôm đó, anh ngồi dưới ánh đèn dầu viết thư hồi âm. Rồi cuối cùng, sau rất nhiều lần ngập ngừng, anh viết thêm một câu.

"Đêm ấy tôi cũng nhìn thấy trăng rồi."

Những năm sau đó, thư vẫn được gửi đi. Từ Quảng Ngãi ra Nghệ An rồi lại từ Nghệ An vào Quảng Ngãi. Nhưng đường sá thời ấy xa xôi và cách trở, một lá thư muốn đi từ miền Trung vào đến xứ Nghệ phải theo ghe bầu, theo những chuyến buôn, theo chân người lữ khách đi qua biết bao bến sông, bến biển. Có khi mất hàng tháng trời mới tới nơi. Có khi thất lạc giữa đường rồi chẳng bao giờ tìm lại được nữa. Mười lá thư gửi đi, may ra chỉ một hai lá đến được tay người nhận.

Những lúc như thế, cả hai đều chỉ biết chờ, chờ đợi một cách mơ hồ rằng không biết lá thư mình viết có tới nơi hay không, cũng không biết người kia có đang khỏe mạnh hay đã gặp chuyện gì. Có năm mất mùa liên tiếp, mưa bão kéo dài rồi sông ngòi ngập lụt khiến cho việc đi lại càng trở nên khó khăn hơn. Có những khoảng thời gian dài đến nửa năm trời, Hồng Cường không nhận được bất kỳ tin tức nào từ Quảng Ngãi. Những đêm ấy, anh thường mang chiếc hộp gỗ nhỏ ra trước hiên nhà. Trong hộp là toàn bộ thư của Thế Vĩ. Có lá giấy đã ố vàng, có lá còn dính chút cát biển ở mép thư hay có lá chỉ vỏn vẹn vài dòng ngắn ngủi.

"Hôm nay ghe ra khơi bình an. Anh khỏi lo."

"Mùa ni mực nhiều lắm."

"Trăng ngoài biển vẫn sáng lắm, anh nhớ ra ngắm trăng nghen."

Những lời giản dị đến mức tưởng như chẳng có gì đặc biệt nhưng Hồng Cường lại đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần, đọc đến mức thuộc lòng từng chữ. Ở Quảng Ngãi, Thế Vĩ cũng vậy. Cậu cất tất cả thư của Hồng Cường trong một chiếc rương gỗ đặt cạnh giường. Mỗi lần đi biển dài ngày trở về, việc đầu tiên cậu làm luôn là mở rương ra xem lại những lá thư cũ. Có những đêm biển động, ghe lênh đênh giữa sóng lớn. Thế Vĩ ngồi dưới ánh đèn dầu trên khoang thuyền, lấy lá thư gần nhất của Hồng Cường ra đọc.

Trong thư, người kia kể về một mùa lúa vừa chín bên sông Lam, kể về đàn trẻ trong lớp học, kể về cây bàng trước sân nhà vừa thay lá. Thật ra những điều ấy rất đỗi bình thường thôi, thậm chí cũng chẳng có gì đáng nhớ nhưng chẳng hiểu sao chỉ cần nhìn thấy nét chữ ấy, lòng cậu liền trở nên yên ổn, giống như người mình nhớ vẫn đang ở đâu đó dưới cùng một bầu trời.

Nhiều năm trôi qua, những lá thư đến rồi lại mất. Có những câu hỏi mãi mãi không nhận được hồi âm. Có những tâm sự gửi đi rồi chẳng biết người kia có đọc được hay không. Thế nhưng cả Hồng Cường lẫn Thế Vĩ chưa từng ngừng viết. Bởi họ hiểu rằng những lá thư ấy chính là cách duy nhất để nối liền khoảng cách giữa dòng sông Lam và biển Sa Kỳ. Mỗi lá thư gửi đi đều giống như một con thuyền nhỏ mang theo nỗi nhớ vượt qua hàng trăm dặm đường. Và dù mười lá chỉ đến được một, họ vẫn kiên nhẫn viết lá thứ mười một, rồi lá thứ mười hai. Bởi chỉ cần có một lá thư đến nơi, chỉ cần biết người kia vẫn bình an dưới ánh trăng của mình, như thế đã đủ để tiếp tục chờ đợi qua thêm một mùa gió nữa.

Năm tháng trôi đi như nước chảy qua cầu. Cha mẹ Hồng Cường lần lượt già đi. Những đứa trẻ anh từng dạy học cũng lớn lên, dựng vợ gả chồng. Ngoài bến Sa Kỳ xa xôi, những chuyến ghe bầu vẫn căng buồm xuôi ngược dọc miền duyên hải. Còn giữa hai người, những lá thư vẫn lặng lẽ bắc một nhịp cầu mong manh qua bao dặm dài cách trở. Cho đến một ngày, nhịp cầu ấy đột ngột đứt đoạn không kịp báo trước. Chỉ là từ một thời điểm nào đó, những lá thư không còn đến nữa.

Hồng Cường vẫn viết, mỗi tháng một lá, có khi hai lá. Anh kể về mùa lúa mới bên sông Lam, về cơn gió đầu đông vừa tràn qua xứ Nghệ, về cây bàng trước sân đã cao hơn năm trước rất nhiều. Nhưng những hồi âm từ Quảng Ngãi ngày một thưa thớt rồi biến mất hoàn toàn. Ban đầu anh nghĩ có lẽ thư thất lạc, sau đó lại nghĩ có lẽ biển động, ghe thuyền khó đi. Rồi một năm, hai năm, ba năm trôi đi vẫn không có tin tức tựa như những lá thư vừa rời khỏi tay người viết đã hóa thành tro bụi giữa khoảng trời mênh mông, chẳng bao giờ tìm được đường đến nơi cần đến.

Hôm ấy là một ngày mưa. Mưa xứ Nghệ rơi dai dẳng từ sáng sớm, phủ lên sân nhà một màu xám nhạt. Những giọt nước từ mái hiên nhỏ xuống từng nhịp đều đặn. Xa xa, dòng sông Lam chìm trong màn mưa trắng đục. Hồng Cường ngồi một mình trước hiên. Chiếc áo dài màu lam trên người cũng không còn mới như những năm tuổi trẻ. Trong tay anh là lá thư cuối cùng nhận được từ Quảng Ngãi. Tờ giấy đã ngả vàng theo năm tháng. Những nếp gấp cũ mòn đi vì được mở ra quá nhiều lần. Đó là lá thư anh đã đọc không biết bao nhiêu lần trong suốt những năm qua.

Mỗi khi nhớ đến người phương Nam ấy, anh lại mang nó ra đọc. Từng chữ một đều đã thuộc nằm lòng. Vậy mà hôm nay, giữa tiếng mưa rơi ngoài hiên, anh vẫn nhẹ nhàng mở lá thư ra. Nét chữ của Thế Vĩ vẫn như ngày nào. Rõ ràng là không đẹp, có chỗ còn nghiêng ngả như sóng biển nhưng chẳng hiểu vì lý do gì mà chỉ cần nhìn thấy thôi, Hồng Cường đã có cảm giác như đang nghe lại giọng nói quen thuộc năm xưa.

"Gửi Bạch Hồng Cường trân quý,

Anh ơi, em không biết được rằng liệu lá thư ni có đến được nơi anh không. Dạo gần đây ghe đi khó lắm. Có người nói ngoài Bắc mưa lũ, có người lại nói thư từ thất lạc giữa đường. Em gửi đi mấy lá mà chẳng thấy hồi âm. Cũng không biết là anh không nhận được hay là em không nhận được thư của anh nữa. Nhưng em vẫn muốn viết bởi nếu không viết thì em chẳng biết phải gửi nỗi nhớ đi đâu.

Anh còn nhớ không? Hôm tiễn anh ở bến cảng, em hỏi ngoài Nghệ An có trăng không. Anh nói ở đâu mà chẳng có làm em cứ nghĩ mãi về câu đó. Bởi vậy mỗi lần ra biển, em đều ngẩng đầu nhìn trăng. Không biết lúc ấy anh có đang nhìn không? Nhưng mà anh ơi, em thấy trăng chẳng còn đẹp khi em đứng ngắm cùng em. Biển cũng chẳng còn thú vị khi em được dạo bước cạnh anh. Kỳ lạ thật, anh nhỉ?

Biển năm nay thì vẫn đẹp lắm anh. Có những đêm trăng sáng đến nỗi mặt nước như phủ bạc. Em ngồi ngoài bãi cát, tự nhiên lại nhớ tới đêm đầu tiên gặp anh trước hiên nhà trọ. Lúc đó em đâu có ngờ một người từ tận sông Lam lại có thể khiến em nhớ suốt ngần ấy năm.

Nếu mai sau thư từ không còn đến được nữa, anh cũng đừng lo. Biển vẫn ở đây và em cũng từng ở đây. Chỉ cần còn nhìn thấy trăng, em tin rằng chúng ta vẫn chưa thật sự lạc mất nhau.

Từ em,

Lê Bin Thế Vĩ."

Hồng Cường gấp lá thư lại thật cẩn thận. Bên ngoài, cơn mưa vẫn rơi đều trên mái ngói cũ. Anh ngẩng đầu nhìn khoảng trời xám đục phía xa. Nơi ấy không có trăng nhưng anh biết, chỉ cần trời quang trở lại, vầng trăng năm nào vẫn sẽ hiện lên như chưa từng thay đổi. Tựa như lời hẹn giữa hai người và cũng tựa như một phần thanh xuân đã đi qua. Và tựa như cái tên Lê Bin Thế Vĩ, dù bao năm không còn tin tức, vẫn chưa từng phai nhạt trong ký ức của người ngồi dưới mái hiên ấy. Bởi có những người, cả đời chỉ gặp một lần. Cũng có những người, dù cách xa nửa đất nước, dù thư từ đứt đoạn, dù năm tháng phủ đầy bụi thời gian, vẫn sống mãi trong lòng ta như ánh trăng không bao giờ tắt.

Thời gian vốn là thứ lặng lẽ nhất trên đời. Nó không tạo ra tiếng động khi đi qua., không báo trước khi đến và cũng chẳng để ai kịp nhận ra mình đã đánh mất điều gì. Chỉ đến khi ngoảnh đầu nhìn lại, người ta mới giật mình nhận ra những năm tháng thanh xuân đã nằm lại ở phía sau tự lúc nào. Từ ngày những lá thư cuối cùng biến mất giữa những nẻo đường xa cách, thời gian vẫn tiếp tục trôi đi như dòng nước sông Lam chưa từng ngừng chảy. Mới đó mà đã một thập kỷ. Mười năm đủ để một chàng trai trở thành một người đàn ông trưởng thành. Mười năm đủ để những mái đầu bắt đầu xuất hiện vài sợi tóc bạc. Mười năm cũng đủ để nỗi nhớ không còn là cơn sóng dữ cuộn trào trong lồng ngực mà lắng xuống thành một dòng chảy âm thầm, bền bỉ và sâu đến mức chẳng thể đo được.

Ở Nghệ An, Bạch Hồng Cường dần trở thành một vị thầy đồ có tiếng. Lớp học của anh ngày một đông. Học trò từ những làng xa cũng tìm đến xin theo học. Nhiều người từng ngỏ ý muốn mai mối cho anh một mối lương duyên. Có những gia đình khá giả trong vùng sẵn sàng gả con gái cho vị thầy đồ nổi tiếng ấy nhưng lần nào Hồng Cường cũng khéo léo từ chối. Ban đầu người ta còn thắc mắc, về sau dần dần cũng quen. Có lẽ trong mắt mọi người, vị thầy đồ ấy đơn giản là người quá chuyên tâm vào chữ nghĩa và việc dạy học nên chẳng còn lòng dạ nghĩ đến chuyện riêng tư. Chỉ có Hồng Cường mới hiểu trong lòng mình từ lâu đã có một khoảng trống không ai thay thế được.

Còn ở phương Nam xa xôi, cuộc đời của Thế Vĩ cũng đổi thay theo năm tháng. Sau khi cha già yếu dần, cậu chính thức tiếp quản việc làm ăn của gia đình. Những chuyến ghe bầu ngày một nhiều hơn. Hàng hóa từ Quảng Ngãi được chở đi khắp nơi dọc miền duyên hải. Từ Bình Định, Phú Yên, vào tận Nam Kỳ rồi ngược ra các tỉnh phía Bắc. Chàng trai năm nào thích rong chơi trên bãi biển giờ đã trở thành người đứng đầu cả một đội ghe lớn. Người ta kính nể sự quyết đoán và tài xoay xở của cậu trên thương trường. Nhưng chỉ những người thân cận mới biết rằng mỗi lần ghe đi về phía Bắc, Thế Vĩ luôn dặn đi dặn lại một điều giống nhau. Nếu có ghé Nghệ An, nhớ hỏi giúp một người tên Bạch Hồng Cường.

Lần đầu tiên, mọi người còn nhiệt tình dò hỏi. Lần thứ hai, thứ ba, họ vẫn còn nhớ. Nhưng đến năm thứ năm, thứ sáu, ai nấy đều chỉ biết lắc đầu. Nghệ An rộng quá mà làng này cách làng kia cả ngày đường. Biết tìm một người giữa bao nhiêu huyện, bao nhiêu tổng như thế nào?

"Anh tìm người thân hả?" Có người hỏi lại cậu.

"Chỉ là người quen cũ thôi." Thế Vĩ chỉ cười rồi đáp lại như thế.

Nhiều đêm neo ghe ngoài cửa biển, Thế Vĩ vẫn đứng một mình trên boong thuyền nhìn lên bầu trời. Trăng vẫn sáng như ngày nào, chỉ là người cùng ngắm trăng năm ấy không còn ở bên cạnh nữa.

Còn ở Nghệ An, Hồng Cường cũng chưa từng thôi chờ đợi. Mỗi khi nghe tin có đoàn ghe từ Quảng Ngãi cập bến, anh luôn tìm cớ ra cảng. Có khi nói là đi mua giấy mực, có khi bảo tiện đường ghé xem hàng hóa nhưng chính anh cũng biết mình đang tìm kiếm điều gì. Bến cảng năm nào cũng đông đúc. Những cánh buồm trắng nối nhau xuất hiện từ phía chân trời rồi chầm chậm tiến vào bờ. Tiếng người gọi nhau í ới, tiếng hàng hóa được khuân xuống hòa cùng tiếng sóng vỗ vào mạn ghe khiến cho bức tranh cảnh vật trở nên sống động.

Giữa khung cảnh ấy, Hồng Cường thường đứng lặng rất lâu và ánh mắt anh sẽ lướt qua từng gương mặt xa lạ như thể chỉ cần nhìn thêm một lần nữa thôi, người mình chờ đợi sẽ bất ngờ bước xuống từ một khoang thuyền nào đó. Một chàng trai miền biển với nụ cười rạng rỡ như ngày nào. Nhưng lần nào cũng vậy. Những cánh buồm đến rồi đi, những con thuyền cập bến rồi lại rời bến còn người anh tìm kiếm vẫn không xuất hiện.

Năm tháng cứ thế trôi qua. Không ai biết rằng ở hai đầu đất nước, có hai người đàn ông vẫn lặng lẽ sống cuộc đời riêng của mình. Một người bên dòng sông Lam. Một người bên biển Sa Kỳ. Giữa họ là hàng trăm dặm đường, là những mùa mưa bão, là những lá thư thất lạc và những cuộc đời đã đổi thay theo năm tháng. Thế nhưng có một điều chưa từng thay đổi. Đó là mỗi khi đêm xuống, khi vầng trăng từ từ nhô lên giữa bầu trời, cả hai đều sẽ vô thức ngẩng đầu nhìn. Bởi có những cuộc gặp gỡ không đủ dài để đi cùng nhau suốt đời nhưng lại đủ ấn tượng để trở thành một phần của đời người. Và có những nỗi nhớ dù bị thời gian phủ lên bao lớp bụi vẫn âm thầm tồn tại như ánh trăng trên mặt biển, tưởng như xa xôi nhưng chưa bao giờ thực sự biến mất.

Mùa thu năm ấy, biển lặng hơn thường lệ. Sau nhiều năm xuôi ngược trên những tuyến đường buôn bán Bắc Nam, Thế Vĩ đã quen với những chuyến đi dài. Từ Quảng Ngãi ra Thanh Hóa, từ Nam Định vào tận Gia Định, mỗi vùng đất cậu đều ít nhiều đặt chân tới. Thế nhưng có một nơi, suốt hơn mười năm qua, cậu vẫn luôn đứng ở rất gần mà chưa từng thật sự bước vào. Đó là Nghệ An. Không phải vì không có cơ hội, ngược lại, những chuyến ghe của Thế Vĩ từng đi qua vùng duyên hải Bắc Trung Bộ không biết bao nhiêu lần. Chỉ là mỗi lần đến gần, cậu lại tự nhủ để dịp khác. Rồi năm này qua năm khác, đến chính cậu cũng không biết mình đang ngại điều gì.

Thế nhưng năm ấy, khi một chuyến hàng lớn cần được đưa ra Bắc, Thế Vĩ lại bất ngờ đưa ra quyết định. Cậu sẽ ghé Nghệ An. Quyết định ấy đến vào một đêm trăng sáng, khi đứng trên boong ghe nhìn mặt biển lấp lánh ánh bạc, cậu bỗng nghĩ rằng mình nên đi. Đi thôi chứ, ít nhất cũng là một lần. Thế Vĩ cũng chẳng chắc sẽ tìm được người muốn tìm. Mười mấy năm rồi, ngay cả thư từ còn chẳng còn liên lạc được, nói gì đến việc tìm một người giữa cả một tỉnh rộng lớn. Chỉ là cậu muốn biết Hồng Cường sống thế nào, muốn biết người năm ấy giờ đã ra sao và muốn biết năm tháng có đối xử tử tế với người ấy không.

Con ghe cập bến vào một buổi sáng đầu đông. Tiết trời xứ Nghệ se lạnh khác hẳn những cơn gió mang vị mặn của quê nhà Quảng Ngãi. Thế Vĩ bước xuống bến. Đôi giày dính một lớp bụi đường mỏng. Nơi đây khác xa những gì cậu từng tưởng tượng nhưng lại cũng giống hệt những gì cậu từng nghe kể. Những rặng tre ven đường, những mái nhà thấp thoáng sau vườn cau và cả những cánh đồng trải dài đến tận chân trời. Thế Vĩ thuê một người dẫn đường rồi bắt đầu dò hỏi.

"Ở vùng ni có ai tên Bạch Hồng Cường không?"

Người được hỏi thường lắc đầu. Có người suy nghĩ rất lâu rồi vẫn không nhớ ra. Có người bảo Nghệ An rộng lắm, biết tìm nơi mô. Thế Vĩ chỉ cười bởi cậu vốn đã chuẩn bị sẵn tâm lý cho việc ấy. Dù sao thì một cái tên cũng quá nhỏ bé giữa biết bao nhiêu làng xã. Thế nhưng đến chiều ngày thứ hai, khi ghé vào một quán nước ven đường, cậu lại nghe được một điều bất ngờ. Một ông lão đang uống trà bỗng ngẩng đầu lên.

"Bạch Hồng Cường?"

"Dạ, bác biết người ni sao?" Thế Vĩ lập tức quay lại.

"Có phải thầy đồ Hồng Cường không?" Ông lão gật gù.

Tim Thế Vĩ đập mạnh một nhịp. Hơn mười năm qua, đây là lần đầu tiên cậu nghe thấy một người khác gọi đúng cái tên ấy.

"Thầy đồ ạ?"

"Ừ. Thầy nổi tiếng vùng ni mà. Học trò đông lắm." Ông lão chỉ tay về phía con đường đất dẫn qua cánh đồng. "Đi thêm vài dặm nữa là tới làng của thầy."

Trời chiều dần ngả sang màu vàng nhạt. Gió đầu đông thổi qua những cánh đồng lúa đã gặt xong. Thế Vĩ đứng bên con đường đất dẫn vào làng, nhìn về phía xa, nơi cuối con đường ấy có lẽ là ngôi nhà mà Hồng Cường đang sống. Khoảng cách giữa họ lúc này chỉ còn vài dặm đường nhưng Thế Vĩ lại không bước tiếp ngay. Cậu đứng đó rất lâu. Bởi sau hơn mười năm xa cách, điều khiến cậu lo lắng nhất không phải là không tìm thấy người mà là khi thật sự gặp lại, liệu họ có còn nhận ra nhau giữa bao đổi thay của thời gian hay không. Và liệu ánh mắt của người năm ấy khi nhìn thấy cậu có còn dịu dàng như dưới ánh trăng ở biển Sa Kỳ thuở nào.

Cuối con đường đất nhỏ là một ngôi trường làng đơn sơ nép mình dưới bóng những cây bàng già. Tiếng trẻ con đọc bài vang ra tận ngoài cổng. Trong sân, nắng chiều cuối đông rơi nghiêng trên khoảng đất vàng, phủ lên mọi thứ một màu dịu nhạt. Vài đứa trẻ đang ngồi ngay ngắn trên những chiếc chõng tre, tay cầm sách, miệng đồng thanh đọc theo lời thầy. Thế Vĩ đứng bên ngoài hàng rào tre. Bước chân vốn đã đi qua biết bao bến cảng, biết bao miền đất lạ, vậy mà lúc này lại không dám tiến thêm một bước. Ánh mắt cậu chậm rãi nhìn vào trong sân trường rồi bất chợt dừng lại.

Có một người đang đứng giữa đám học trò. Người ấy mặc áo dài nâu giản dị. Mái tóc được buộc gọn phía sau. Dáng người cao nhưng gầy hơn rất nhiều so với ký ức năm nào. Người ấy đang cầm một quyển sách, chậm rãi giảng bài cho học trò. Giọng nói theo gió chiều vọng tới, vẫn là giọng Nghệ An trầm và chậm như thuở nào. Chỉ nghe một câu thôi Thế Vĩ đã biết. Là anh, thật sự là anh. Mười mấy năm qua, cậu từng tưởng tượng về khoảnh khắc gặp lại này không biết bao nhiêu lần.

Một đứa trẻ trong lớp là người đầu tiên phát hiện ra vị khách lạ ngoài cổng. Nó tò mò quay đầu nhìn rồi thêm vài đứa nữa nhìn theo. Tiếng đọc bài dần nhỏ lại. Cả lớp bắt đầu xôn xao.

"Ai đó thầy ơi."

"Có người đứng ngoài cổng."

"Hình như tìm thầy đó."

Hồng Cường đang giảng bài thì khựng lại. Anh tưởng chỉ là người qua đường ghé hỏi việc gì đó. Thế nhưng khi quay đầu nhìn theo hướng đám trẻ chỉ, mọi âm thanh dường như đột ngột biến mất. Gió vẫn thổi và lá bàng vẫn xào xạc trên cao. Đám học trò vẫn ngồi đó. Ngoài cổng trường, dưới ánh nắng nhạt cuối chiều, có một người đàn ông đang đứng lặng. Dáng người cao lớn hơn trước, nước da sạm đi vì nắng gió nhưng đôi mắt ấy khiến Hồng Cường nhận ra ngay từ khoảnh khắc đầu tiên. Mười mấy năm, bao nhiêu mùa trăng đã đi qua, bao nhiêu lá thư đã thất lạc giữa đường, bao nhiêu lần nghĩ rằng có lẽ sẽ không còn cơ hội gặp lại. Vậy mà giờ đây, chỉ cần một ánh nhìn, anh vẫn nhận ra người ấy giữa hàng ngàn người xa lạ.

Người con trai ấy là người con trai của biển Sa Kỳ, là người từng ngồi nghe anh đọc thơ dưới hiên nhà trọ, là người từng nắm tay anh chạy dọc bờ biển dưới ánh trăng và cũng là người đã cùng anh giữ một lời hẹn suốt hơn mười năm trời. Bốn mắt chạm nhau nhưng không ai nói gì. Khoảng sân trường không quá rộng nhưng dường như chứa đựng cả một quãng đời dài giữa họ. Trong ánh mắt ấy có những đêm trăng ở Quảng Ngãi, có những lá thư ngả màu thời gian, có những lần đứng bên bến cảng nhìn theo cánh buồm xa dần và có cả những năm tháng chờ đợi tưởng như vô vọng. Tất cả đều hiện lên chỉ trong một khoảnh khắc.

Một đứa trẻ ngơ ngác nhìn thầy giáo của mình. Nó chưa bao giờ thấy thầy đứng yên lâu như vậy. Cuốn sách trong tay Hồng Cường vẫn mở nhưng anh không còn nhìn thấy những hàng chữ trên trang giấy nữa. Anh chỉ nhìn người trước mặt, nhìn người mà suốt hơn mười năm qua mình chỉ có thể gặp trong ký ức. Còn Thế Vĩ cũng vậy. Cậu nhận ra người ấy đã gầy đi. Thế nhưng nụ cười nơi khóe môi và đôi mắt dịu dàng ấy vẫn còn nguyên vẹn. Mười năm xa cách là quãng thời gian đủ dài để thay đổi một đời người. Nhưng trong khoảnh khắc ấy, cả hai bỗng cảm thấy như chưa từng thật sự rời xa nhau. Bởi có những người dù cách nhau ngàn dặm, dù năm tháng phủ đầy bụi thời gian, vẫn luôn sống trong ký ức của nhau rõ ràng như ngày hôm qua.

Và vì mười năm ấy quá dài, quá nhiều điều đã xảy ra, quá nhiều điều muốn hỏi, quá nhiều điều muốn kể nên cuối cùng, mọi lời nói đều trở nên dư thừa. Chỉ cần nhìn thấy nhau còn đứng đó và vẫn bình an, như thế đã đủ rồi.

Khoảng sân trường vẫn yên tĩnh đến lạ. Đám học trò ngồi phía sau chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra. Chúng chỉ thấy vị khách lạ đứng ngoài cổng và người thầy vốn luôn điềm tĩnh của mình bỗng lặng đi rất lâu. Gió cuối năm thổi qua những tán bàng già. Nắng chiều dần ngả sang màu mật ong nhạt. Hồng Cường là người bước đi trước. Anh khép cuốn sách trong tay lại, giao cho một học trò rồi chậm rãi bước xuống những bậc thềm quen thuộc. Thế Vĩ đứng yên nhìn anh bước tới. Đến khi chỉ còn cách nhau vài bước chân, Hồng Cường mới dừng lại. Anh nhìn người trước mặt thật lâu như muốn bù đắp cho hơn mười năm chỉ có thể nhớ bằng ký ức.

Rồi Thế Vĩ thấy anh cười, giống hệt những đêm trăng ở Quảng Ngãi năm ấy.

"Trăng Quảng Ngãi thế nào rồi? Vẫn đẹp chứ nhỉ?"

Câu hỏi vừa cất lên, đôi mắt Thế Vĩ bỗng cay xè. Bao nhiêu lời muốn nói, bao nhiêu câu đã chuẩn bị suốt quãng đường từ biển Sa Kỳ ra tận Nghệ An để rồi cuối cùng lại chỉ gói gọn trong một câu hỏi về trăng Nhưng có lẽ chỉ họ mới hiểu rằng trong những năm tháng mất liên lạc ấy, trăng chính là thứ duy nhất chưa từng thất hứa. Thế Vĩ cũng cười, là nụ cười mang theo cả sự nhẹ nhõm lẫn xúc động mà cậu đã cố giấu từ lúc bước vào làng.

"Vẫn vậy thôi." Giọng nói đã trầm hơn trước nhưng âm sắc xứ Quảng vẫn còn nguyên. Cậu nhìn người trước mặt rồi hỏi lại. "Thế còn trăng Nghệ An thì sao?"

Khoảnh khắc ấy, Hồng Cường không trả lời ngay. Anh chậm rãi ngẩng đầu. Bầu trời cuối chiều đang dần chuyển màu. Nơi đường chân trời, ánh nắng cuối cùng còn sót lại nhuộm mây thành sắc vàng nhạt. Mặt trăng vẫn chưa lên hưng anh biết nó đang ở đó. Ở phía bên kia màn đêm đang chậm rãi kéo đến. Khóe môi Hồng Cường khẽ cong lên.

"Trăng Nghệ An vẫn luôn chờ người."

Mười mấy năm ấy là mười mấy năm chờ những lá thư không tới, là mười mấy năm đứng trên boong ghe nhìn trăng ngoài biển và là mười mấy năm đi qua biết bao bến nước mà vẫn nhớ một người nơi phương Bắc. Trong giây phút ấy, tất cả bỗng hóa thành một nỗi nghẹn ngào không thể gọi tên.

Gió chiều lướt qua khoảng sân nhỏ. Xa xa, tiếng trẻ con bắt đầu ríu rít trở lại. Một cánh chim chậm rãi bay ngang bầu trời. Mọi thứ vẫn bình thường như bao ngày khác. Thế nhưng chỉ có hai người họ biết rằng, sau hơn mười năm lạc mất nhau giữa biển rộng và sông dài, giữa những lá thư thất lạc và những tháng năm đằng đẵng, cuối cùng họ cũng đã đứng trước mặt nhau một lần nữa. Thời gian đã lấy đi tuổi trẻ của họ nhưng lại không thể lấy đi lời hẹn năm nào. Bởi hóa ra trên đời này, có những cuộc chờ đợi không cần hồi đáp.

Có những lời hứa không cần nói thành lời và có những người chỉ cần còn cùng nhìn về một vầng trăng thì dù cách nhau mười năm, hai mươi năm hay cả một đời người, cuối cùng vẫn sẽ tìm thấy nhau.

Kết thúc.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co