Chương 5
Nắng xuyên qua ô cửa gỗ, chiếu xuống bộ bàn ghế cũ kỹ. Những tia nắng yếu ớt của buổi sáng muộn len lỏi qua từng khe hở, tạo nên những vệt sáng dài trên nền gạch đỏ sẫm. Mùi hương trầm thoang thoảng trong không khí càng làm cho không gian trong miếu thêm linh thiêng nhưng cũng có phần bị nén chặt. Từng làn khói mỏng bay lên từ bát hương, quẩn quanh dưới mái miếu rồi tan biến vào khoảng không. Chúng tôi ngồi quanh bàn, tay ôm chén trà nóng, có lẽ là lần hiếm hoi trong nhiều ngày tim không đập loạn vì sợ hãi.
Ông Lương ngồi đối diện, ánh mắt trầm mặc nhìn chúng tôi. Những nếp nhăn trên mặt ông như khắc sâu thêm dưới ánh sáng ban mai. Một lúc lâu, ông đặt chén trà xuống, chậm rãi nói:
"Có chuyện ta giữ trong lòng bao năm, nhưng tới lúc phải nói rồi."
Ánh mắt ông đăm chiêu nhìn vào bát hương nghi ngút khói, như thể đang nhìn xuyên qua thời gian, trở về quá khứ xa xăm.
"Người tiền nhiệm... trước khi mất, đã dặn lại: trong rừng cạnh làng này, có thứ gì đó bị một vị pháp sư phương Bắc phong ấn. Suốt hơn trăm năm nay, chúng ta theo lệnh từ quan phủ lúc trước cùng sự kế tục của bao đời canh miếu phải ở lại mà canh giữ nơi đây, trấn giữ một trong hai vật chế ngự linh hồn ấy. Một vật là con dao găm cắm trên bia mộ dưới giếng, vật kia chính là pho tượng Thành Hoàng này."
Ông ngừng lại, nhấp một ngụm trà rồi tiếp:
"Nếu đúng theo những gì các cháu đã nói, con dao kia chính là thứ giam giữ nó. Còn bức tượng Thành Hoàng này là thứ duy nhất ngăn không cho nó hại người. Hai vật này vốn bổ trợ cho nhau, tạo thành một vòng phong ấn hoàn chỉnh. Khi con dao bị rút khỏi bia mộ, phong ấn đã bị phá vỡ một nửa."
Giọng ông trầm hẳn xuống:
"Giờ đây, con dao đã thất lạc. Chỉ còn bức tượng này giữ nổi oán linh ấy. Cho nên, từ giờ cho tới khi tai ương này qua đi, các cháu chỉ được ở lại đây. Đừng bước chân ra ngoài khi không cần thiết. Đây là chốn linh thiêng, các cháu phải giữ sự thanh tịnh. Tuyệt đối không được làm ô uế nơi này. Về chuyện học hành, ta sẽ có cách để các cháu vẫn đi học như mọi người. Nhưng nhớ kỹ: sau khi tan học, phải trở lại đây nhanh nhất có thể. Chỉ có thế... các cháu mới giữ được mạng sống."
Cả ba chúng tôi chỉ biết gật đầu lia lịa, chấp nhận mọi yêu cầu của ông vì bây giờ, chỉ có ông mới có thể cứu mạng chúng tôi. Nhưng tôi vẫn còn điều chưa nói, cứ đắn đo mãi rồi cũng phải thốt ra:
"Hôm thằng Mạnh mất, lúc mà mọi người khiêng nó về miếu... cháu có thấy một cô gái áo đỏ.. Đẹp lắm... da trắng, tóc dài, nhưng quần áo thì lạ lắm, kiểu như ngày xưa ấy ạ. Cứ đứng lặng trên bờ đê nhìn về phía cháu. Nhưng vừa quay đi thì cô ấy biến mất, như chưa từng tồn tại!"
Kiên giật mình, quay phắt sang tôi. Mặt nó thoáng cái đã trắng bệch, chén trà trong tay suýt rơi:
"Tao cũng thấy. Nhưng không giống mày. Tao chỉ thấy một cái bóng mờ. Không rõ mặt, thậm chí còn không có hình dạng... như một thứ gì đó đứng trong bóng tối, đen đặc hơn cả màn đêm."
Tôi và nó nhìn nhau, cả hai thằng như cùng một suy nghĩ khó hiểu: một bóng hình, nhưng xuất hiện với hai hình dạng khác nhau. Sao lại có thể như vậy được?
Ông Lương nghe xong, im lặng hồi lâu. Ánh mắt ông trầm xuống, tay gõ nhịp khe khẽ trên mặt bàn gỗ cũ, từng tiếng "cốc, cốc" đều đặn như nhịp tim. Rồi ông khẽ chậm rãi nói:
"Thường người ta chỉ thấy linh hồn ở hình dạng ghê rợn nhất. Nếu cháu thấy nó đẹp... tức là nó cố tình hiện ra như thế cho cháu thấy. Hoặc cũng có thể là hình dáng khi nó còn sống, thậm chí chỉ là vỏ bọc để lừa gạt. Còn Kiên, chỉ vô tình nhìn thấy chút bóng thật sự của nó. Vậy thì... ta chắc chắn cả hai đứa đều có thể nhìn thấy những thứ không thuộc về thế giới người sống."
Tôi và Kiên liếc nhau, cổ họng khô khốc. Dù không muốn, chúng tôi đều phải thừa nhận: dạo gần đây, ngoài những giấc mơ kỳ quái, cả hai còn có cảm giác bị theo dõi, lạnh gáy giữa ban ngày, và những thứ khó mà lý giải. Có những lúc đang đi trên đường, tự dưng tôi thấy mình như bị ai đó nhìn từ phía sau, nhưng quay lại thì chẳng có ai.
Lúc này, Minh giọng run rẩy cất lên, phá tan bầu không khí im lặng:
"Ông có để ý... Hoàng chết đầu tiên, đến Mạnh, rồi Lực, cứ 49 ngày lại có một đứa ra đi. Đúng như thứ tự bọn cháu xuống giếng hôm đó. Nếu vậy... đứa kế tiếp sẽ là... cháu?"
Tôi cố níu lấy chút lý trí, thì thào:
"Nhưng... Hoàng đâu có chết ngay. Nó kéo dài tận cả mùa hè, đến khi vào năm học, thậm chí là qua cả Trung Thu. Nếu là đúng 49 ngày, thì khoảng ấy... lẽ ra đã có những cái chết khác."
Kiên cau mày, nhìn thẳng vào ông Lương với ánh mắt đầy nghi hoặc:
"Cháu có chút thắc mắc... sao lại chính xác 49 ngày? Sao không phải là 40 hay 50? Số 49 có ý nghĩa gì ạ?"
Ông Lương lặng im hồi lâu, đôi mắt nhìn xa xăm ra ngoài sân miếu, nơi những tán cây đang đung đưa trong gió. Rồi ông ngẩng lên, mắt đượm mệt mỏi, giọng trầm xuống như tiếng vọng từ quá khứ:
"Trong kinh Phật, bốn mươi chín ngày là thời hạn hồn người chết còn vất vưởng trước khi sang kiếp khác. Đó là khoảng thời gian mà linh hồn còn lưu luyến cõi trần, còn chưa chấp nhận ra đi. Nếu oán linh kéo người đi đúng cái ngày ấy, thì nó không chỉ đoạt mạng... mà còn giữ linh hồn những người đi trước lại, không cho siêu thoát. Còn các linh hồn sau thì lại lặp lại, vẩn vương nơi trần thế mà không có đường chuyển kiếp! Nó như một vòng luẩn quẩn, một chuỗi dây chuyền tử thần."
Chén trà trong tay tôi run bần bật, nước sóng sánh tràn ra bàn, thấm vào những thớ gỗ cũ. Ông Lương đưa tay trấn an:
"Vậy nên các cháu phải ở lại đây ít nhất tới qua ngày thứ 49. Ông sẽ cố không để thứ tai ương ấy làm hại mấy đứa. Đây là nơi duy nhất có thể bảo vệ các con."
Nói rồi ông đứng dậy, bước ra sân gọi chú Phong—người hay giúp ông việc trong miếu. Chú Phong là một người đàn ông trạc bốn mươi, hiền lành, ít nói, chuyên, thường giúp ông Lương lo việc cắt cỏ, quét dọn và thắp hương . Hai người nói chuyện nhỏ to bên cổng, tôi không nghe rõ. Chỉ thấy chú Phong tái mặt, rồi vội vã dắt chiếc Dream cũ kỹ ra khỏi sân. Chú nổ máy, tiếng pô xé toạc không khí yên tĩnh, phóng đi nhanh đến mức bụi mù bay kín lối.
Ông trở lại bàn, gương mặt vẫn nặng trĩu, nhưng giọng đã dịu xuống:
"Các cháu... từ nay phải thành tâm dâng hương mỗi ngày. Buổi sáng thắp nhang đủ ba nén, còn đến tối các cháu phải đọc hết một ngàn câu kinh. Những câu kinh này sẽ giúp các cháu giữ được tâm thanh tịnh, không bị ám ảnh bởi những thứ xấu xa. Ngoài ra, miếu này phải sạch sẽ, không để bụi bẩn vướng vào tượng Thành Hoàng. Quét dọn, lau chùi... coi như đó cũng là cách giữ lòng kính trọng vừa để Ngài có thể che chở cho các cháu."
Ba thằng cũng không dám lười nhác, sau lời nói của ông, chúng tôi bắt tay ngay vào làm việc. Kiên lấy chổi quét sân, Minh lau bàn thờ, còn tôi phụ ông Lương thay nước và dọn dẹp bát hương. Không khí trong miếu bỗng trở nên ấm cúng lạ thường, như thể có một bàn tay vô hình đang xoa dịu nỗi sợ trong lòng chúng tôi.
Nhưng ngay khi đang quét dọn gian thờ, tôi ngẩng lên mà chết sững. Ngay dưới cổ bức tượng Thành Hoàng, một vết nứt mới đã hiện ra, nó như một vết cắt đen sì như ai đó đã cầm dao mà cứa vào. Vết nứt không lớn, chỉ bằng đốt ngón tay, nhưng nó sâu và đen ngòm, như thể chứa đựng cả bóng tối bên trong.
Tôi hoảng hốt, tay run rẩy làm rơi cả chổi. Tiếng chổi rơi đánh cạch xuống nền gạch. Nhìn sang Kiên với Minh, cả hai vẫn cắm cúi dọn, chưa phát hiện ra gì. Tôi cố giữ bình tĩnh rồi lẳng lặng chạy ra ngoài tìm ông Lương.
Nghe tôi báo, ông sững lại một thoáng, mặt tái đi nhưng rồi nhanh chóng lấy lại bình tĩnh. Ông chỉ khẽ gật đầu, đặt tay lên vai tôi, giọng chậm rãi, cố giữ sự bình thản:
"Đừng cho hai đứa kia biết. Chúng nó yếu vía, hoang mang sẽ càng dễ bị thứ tà ma kia tìm thấy. Cháu yên tâm, ta... ta sẽ lo liệu. Ta còn vài cách nữa."
Nói vậy nhưng tôi thấy rõ tay ông khẽ run khi vỗ nhẹ vai tôi. Sự sợ hãi của người lớn tuổi này càng khiến tôi cảm thấy mọi thứ đang trở nên tồi tệ hơn. Nếu ngay cả ông Lương cũng run sợ, thì chúng tôi còn hy vọng gì?
Ngày hôm sau, vì đã hết phép nghỉ, cả ba đứa buộc phải quay lại trường học. Trước khi chúng tôi đi, ông Lương lấy trong hòm gỗ cũ kỹ ra ba lá bùa vàng, vẫn còn vương mùi khói hương. Ông viết gì đó phía sau mỗi lá bùa bằng thứ mực đỏ tươi, rồi phát cho mỗi đứa một lá, dặn dò cẩn thận:
"Giữ bùa này bên người. Trường học là nơi nhiều dương khí, oán linh sẽ khó bén mảng tới. Nhưng nhớ kỹ: tan học phải về thẳng miếu. Không được la cà, không được rẽ ngang dọc. Ở ngoài lâu... thì ta cũng chẳng giữ nổi các cháu đâu. Bùa này chỉ có tác dụng khi vẫn còn mặt trời thôi."
Tôi nắm chặt lá bùa trong tay, cảm nhận được hơi ấm từ nó như một chiếc phao cứu sinh. Những nét chữ đỏ trên nền giấy vàng như những vệt máu khô, nhưng lại mang đến cảm giác bình an lạ thường. Kiên và Minh cũng gật đầu, dù rất căng thẳng nhưng ít nhất chúng tôi đã có một tia hy vọng.
Những ngày sau đó như thể là một vòng lặp bất tận. Chúng tôi đi học, rồi về miếu, tối đến đọc kinh theo lời ông Lương dặn. Mỗi tối, ba đứa ngồi xếp bằng trước bàn thờ, tay lần tràng hạt, miệng đọc những câu kinh mà ông dạy. Lúc đầu tụi tôi đọc còn ngắc ngứ, nhưng dần dần cũng thuộc làu. Cứ ngỡ như mọi ác mộng đã bị bỏ lại.
Có những đêm, tôi nằm mà suýt quên mất cảm giác sợ hãi, chỉ thấy tiếng côn trùng rả rích ngoài vách tường, tiếng gió thổi qua khe cửa tạo thành những âm thanh vi vu như ru ngủ. Cả Kiên và Minh cũng dần lấy lại được chút sắc mặt, thậm chí Minh còn nở nụ cười khi kể nhớ nhà, nhớ cơm mẹ nấu. Có hôm nó còn bảo: "Giá mà được ăn bát canh cua của mẹ tao, chết cũng cam." Cả ba đứa cười phá lên, nhưng rồi lại im bặt, vì chữ "chết" giờ đây không còn là thứ có thể đùa cợt được nữa.
Cảm giác như chiếc đồng hồ của Diêm Vương đang dừng lại, bỏ qua ba đứa chúng tôi. Nhưng tôi biết, nó chỉ đang chờ, đang rình rập.
Nhưng rồi... đến ngày thứ bốn mươi lăm, tất cả vỡ tan. Tối hôm đó, chúng tôi quây quần quanh chiếc chiếu, cùng đọc kinh chuẩn bị đi ngủ. Bất chợt Minh run bắn, bàn tay nó siết chặt lá bùa, mắt mở trừng trừng nhìn xuống tay mình. Tôi quay sang, và tim như ngừng đập: lá bùa trong tay nó đã lốm đốm những vệt đen, lan ra như vết mực loang trên giấy, nhưng không phải màu đen bình thường – nó đen như mực, nhưng lại óng ánh một thứ màu xanh kỳ dị.
"Ông... Ông ơi! Cái bùa... nó đổi màu rồi!" – Minh hoảng loạn gào lên, giọng nó the thé, vang vọng trong không gian tĩnh mịch của miếu.
Ông Lương giật lấy lá bùa, nhìn chằm chằm, rồi mặt ông tái hẳn. Ông không nói thêm lời nào, mà sai ngay người làng đi gọi bố mẹ Minh tới miếu trong đêm. Khi họ đến, ông nghiêm giọng, giọng nói pha lẫn sự mệt mỏi và quyết đoán:
"Ta phải làm đơn xin cho nó nghỉ học một tuần. Chỉ cần vượt qua 49 ngày... là nó thoát. Nhưng từ giờ phút này, nó không được rời miếu nửa bước."
Bố mẹ Minh òa khóc nức nở, vừa dập đầu vừa cầu xin ông cứu nó. Mẹ nó khóc đến ngất đi mấy lần, bố nó thì lạy ông như tế sao. Ông Lương ngồi lặng, đôi mắt trũng sâu như mất ngủ cả tháng trời. Rồi ông buông tiếng thở dài nặng nề:
"Lỗi tại ta... Con dao đáng lẽ phải tìm được sớm. Nếu có nó, mọi thứ đã khác. Nhưng lục tung cả làng, ta vẫn không lần ra. Giờ chỉ còn biết cầu trời cho ta giữ lấy đứa nhỏ..."
Ông bước thẳng đến bàn thờ Thành Hoàng, trong tiếng niệm chú khe khẽ, ông rút quẻ. Thẻ tre rơi xuống, xoay vòng một lát trên mặt bàn, rồi dừng lại ngay trước mặt ông. Ông ngẩn người – là quẻ sống.
"Lạ thật..." – ông lẩm bẩm, mày nhíu lại.
Ông Lương không vội. Ông quay sang, khẽ hỏi Minh:
"Cháu mang gì theo người?"
Minh run rẩy lục tung cặp sách, lục hết túi quần túi áo. Nó đổ hết đồ đạc ra chiếu: sách vở, bút, thước kẻ, cục tẩy... rồi chợt khựng lại khi thấy lọ mực viết chữ đổ tung, loang ra cả mấy quyển sách. Hóa ra nó vô tình để lọ mực trong cặp bị va đập, mực đổ ra, vô tình vấy lên lá bùa. Những vết mực đen xanh đó chính là mực viết thường, không phải dấu hiệu của tà khí.
Bố mẹ Minh òa khóc, vừa lau nước mắt vừa cười, ôm con trong vòng tay. Bố nó vỗ vào lưng nó thình thịch: "Mày làm bố mẹ sợ chết khiếp, con ạ!" Ba đứa tôi cùng thở phào, như vừa được kéo khỏi vực thẳm. Minh ngồi bệt xuống chiếu, mặt còn tái nhưng đã cười toe, nụ cười hiếm hoi sau bao ngày:
"Đm, tao tưởng toi rồi! Thế mà chỉ là lọ mực đổ thôi à..."
Tôi đấm nhẹ vào vai nó, cười ngớ ngẩn:
"May vãi. Tao còn nghĩ phải đào hố chôn mày cạnh Hoàng với Mạnh rồi chứ."
Kiên cũng phá lên, ôm cả hai thằng:
"Thế là sống! Bùa còn đây thì quỷ nào dám đến lấy mạng mình!"
Cả ba đứa ôm chặt nhau, cười đến chảy nước mắt, như vừa thoát khỏi lời nguyền đã ám lấy chúng tôi suốt bao ngày. Ngay cả bố mẹ Minh cũng cười trong nước mắt, cảm ơn ông Lương rối rít.
Chỉ có ông Lương là vẫn bình tĩnh. Ông không nói gì, chỉ lặng lẽ cầm lá bùa đã hoen mực, bước ra sân miếu. Ông lẩm nhẩm gì đó rồi châm lửa, để ngọn lửa nuốt trọn tấm bùa loang lổ vết mực. Tro bay theo gió, tản vào bóng đêm, tan biến như chưa từng tồn tại.
Rồi ông quay vào, lấy từ hòm gỗ ra một lá bùa mới tinh, lại viết gì đó bằng mực đỏ, những nét chữ uốn lượn như rồng bay phượng múa, rồi trao lại cho Minh.
"Giữ kỹ bên mình. Đây là lá bùa cuối cùng rồi, giữ cho cẩn thận. Một khi bùa hỏng, linh hồn cháu cũng sẽ không còn được bảo vệ."
Giọng ông trầm xuống, như một hồi chuông ngân xa, khiến dù vừa thở phào, cả ba chúng tôi lại một lần nữa thấy lạnh buốt sống lưng. Thế nhưng, sau tất cả, chúng tôi cũng nhanh chóng quên đi lời cảnh báo về "cái thứ tà ác" kia. Bởi khác với thằng Hoàng, thằng Mạnh và thằng Lực, Minh đến giờ vẫn cười nói vui vẻ, không hề có một dấu hiệu khác thường nào. Nó vẫn ăn ngon, ngủ kỹ, vẫn tranh giành miếng ăn với tôi và Kiên mỗi bữa. Vì vậy, chúng tôi càng có niềm tin có thể thoát khỏi linh hồn đang đeo bám.
Thế rồi tới đêm ngày thứ 48, Minh bỗng vùng dậy giữa giấc ngủ, miệng gào thét thảm thiết. Tiếng thét của nó xé tan màn đêm tĩnh mịch, khiến tôi và Kiên giật bắn người. Tôi với Kiên cuống cuồng lay nó, ông Lương cũng bật dậy từ chiếc phản gần đó. Lay mãi nó mới tỉnh, mồ hôi đầm đìa, ướt đẫm cả áo ngủ, mặt tái mét như người chết:
"Cứu tao! Tao... tao bị một ông mặc quan phục... rút kiếm chém ngay sau lưng tao! Mặt ông ta dữ dằn lắm! Râu dài, mặc áo bào đỏ, tay cầm thanh kiếm sáng loáng! Ông đấy muốn giết tao!" – Minh run rẩy nói, giọng lạc hẳn đi, hai tay ôm chặt lấy ngực.
Tôi nghe mà rợn cả người. Kiên thì lắp bắp:
"Sao... Sao lại là ông quan? Thời này làm gì còn quan mà chém mày?"
Ông Lương trầm ngâm rồi bảo, giọng trầm tĩnh:
"Không phải đâu. Đó là Thành Hoàng hiển linh. Ngài vốn là quan võ, thần sắc dữ dằn cũng phải. Ngài chém không phải thằng Minh, mà là cái thứ ẩn phía sau lưng nó. Ngài đang bảo vệ con đấy!"
Cả tôi lẫn Kiên đều im re, chỉ có Minh vẫn run bần bật, người co lại như một đứa trẻ lên ba. Ông Lương thở dài:
"Có thể nó đang muốn lặng lẽ mang cháu đi! Nhưng Ngài đã hiển linh để cứu cháu, đã có Ngài che chở thì chỉ cần kiên trì ở lại đây. Giờ cũng đã là rạng sáng ngày thứ bốn mươi chín rồi... Chỉ cần vượt qua đêm nay, có lẽ các cháu sẽ an toàn. Nhưng phải thật cẩn thận, đừng chủ quan."
Trời dần hửng sáng cũng là lúc những căng thẳng của chúng tôi vơi dần. Ánh sáng ban mai từ từ len lỏi qua khe cửa, xua tan bóng tối trong miếu. Dù sao dưới cái ánh sáng của mặt trời, có lẽ những hồn ma cũng sẽ buông tha cho chúng tôi như suốt hơn bốn mươi ngày qua.
Ba thằng lang thang như những cái bóng trên đoạn đường đê lầy lội vì trận mưa đêm. Chẳng ai nói một lời nào, không phải vì mệt mỏi, mà vì cả ba đều biết rõ trong lòng: Hôm nay chính là ngày nguy hiểm nhất. Chúng tôi đã thoát khỏi đêm thứ 48, nhưng cái đồng hồ của thứ ma quái kia vẫn tiếp tục đếm ngược không thể thay đổi. Chỉ khi vượt qua được trọn vẹn ngày hôm nay, chúng tôi mới có thể thực sự sống sót. Cảm giác nhẹ nhõm chỉ là một lớp vỏ mỏng manh che đậy nỗi sợ hãi tột cùng đang chờ đợi.
Buổi chiều, bầu trời xám xịt như sắp sụp xuống. Từng đợt gió ào qua sân trường cuốn theo lá khô, bụi đất, mang theo sự lạnh lẽo của cơn mưa sắp tới. Những đám mây đen kịt từ phía chân trời ùn ùn kéo về, nuốt chửng ánh nắng cuối ngày. Tiếng trống tan học vừa dứt, cả ba thằng tôi cắm đầu chạy thục mạng về phía làng, hy vọng kịp về miếu trước khi trời đổ mưa lớn.
Nhưng mới gần tới cổng làng, những hạt mưa đã rơi lộp bộp xuống mái tóc, rồi nhanh chóng hóa thành một màn trắng xóa. Đường làng vốn đã lầy lội sau mấy ngày ẩm ướt, giờ lại càng như muốn nuốt chửng từng bước chân người. Bùn đất bám đầy dép, nặng trịch, khiến chúng tôi chạy càng khó khăn hơn.
Cả ba kéo nhau trú tạm vào quán nước của bà Ngoan Béo cạnh cổng làng. Bà đẩy ra mấy chiếc ghế nhựa thấp tè, miệng lẩm bẩm than trời đất. Cái ấm trà nóng đặt giữa bàn, hơi nước bốc nghi ngút, quyện với mùi đất ướt tạo nên một thứ hương vị đặc trưng của những ngày mưa. Tiếng mưa dội lên mái bạt chan chát, tiếng nước từ mương sau quán đổ ào ào nghe như tiếng ai thở dài thảm thiết trong đêm.
Bà Ngoan dựa người ra sau, tay thoăn thoắt gói lại mấy gói thuốc lào, mắt nhìn mông lung ra màn mưa. Rồi bà thở dài, nói như thể với chính mình:
"Khổ thân... có mấy thằng chơi với nhau mà giờ còn thế này... Tụi bây coi như còn có phúc. Chứ như thằng Lực, hôm nó mất chiều tao còn thấy nó đi chơi với đám trẻ con ở bãi đất cuối làng, tay vẫn cầm đồ chơi mà đến tối nó đã mất. Nhanh như một cái chớp mắt."
"Đồ chơi? Bãi đất trống cuối làng?" – Kiên khàn giọng nhắc lại, giọng như bị cát vướng. Mắt nó mở to, nhìn tôi và Minh.
Tôi và Minh nhìn nhau. Trong đầu lập tức hiện lên hình ảnh bãi đất trống cuối làng – nơi bọn tôi trước thường tụ tập, cũng là chỗ các bác hay nghỉ ngơi lúc trưa nắng. Cái chỗ ấy lúc nào cũng có người qua lại, nên chưa ai từng nghĩ đến việc tìm kiếm ở đó. Và Lực, nó đã giấu con dao ở đó sao?
Chẳng ai bàn thêm câu nào, Minh đứng bật dậy, mặt đầy quyết tâm:
"Đi xem thử, có thể nó được giấu ở đấy!"
Cả ba lao ra khỏi quán, mặc cho mưa quất thẳng vào mặt. Những hạt mưa to và nặng, đập vào mặt tê rát. Con đường từ quán nước ra bãi đất trống chẳng xa, nhưng hôm ấy, tôi có cảm giác nó dài đến vô tận. Mỗi bước chân như đạp phải bùn, như bị ai đó níu lại. Mưa càng lúc càng nặng hạt.
Bãi đất trống mịt mờ trong màn nước, chỉ còn trơ mấy gốc tre già và vài gốc cây xù xì. Cỏ dại mọc cao ngang đầu gối, ướt sũng, đổ rạp xuống vì mưa. Chúng tôi chia nhau lục tìm khắp những bụi cây, bùn đất bắn tung tóe, nước mưa thấm vào quần áo lạnh buốt. Tay tôi mò mẫm khắp các gốc cây, các bụi cỏ, cảm nhận từng vật thể lạ dưới lớp đất nhão.
Rồi bỗng, tiếng Minh vang lên giữa tiếng mưa, xé toạc không gian:
"Tao... tao thấy rồi!"
Tôi quay phắt lại. Dưới làn mưa trắng xóa, Minh đang quỳ sụp xuống, hai tay run rẩy giơ lên, trên tay nó chính là con dao đồng. Nó nằm dưới một gốc cây mục, được che phủ bởi lớp lá và bùn đất, nhưng vẫn lộ ra ánh kim loại xỉn màu.
"Tìm thấy rồi! Là con dao thật rồi!" – Minh hét lên trong mưa, giọng phấn khích.
Tôi vừa định lao tới chỗ thằng bạn thì một ánh chớp lóe lên, soi rõ bên kia bãi đất trống – nơi màn mưa mờ mịt đang phủ lấy tất cả. Và trong khoảnh khắc ánh sáng lóe lên ấy, tôi thấy một bóng người.
Là cô gái áo đỏ.
Mái tóc cô ta ướt đẫm, bết lại trên vai, tà váy dài quét nhẹ trên mặt đất nhưng không hề dính bùn. Gương mặt nhợt nhạt đến vô thực, trắng bệch như sáp, đôi mắt đen sâu thẳm như hố sâu không đáy, nhìn thẳng về phía tôi. Cô ta đứng bất động giữa màn mưa, không hề nhúc nhích, như một bức tượng bằng xương bằng thịt.
Tôi muốn hét lên, nhưng cổ họng nghẹn cứng, không thể phát ra âm thanh. Chỉ biết lùi dần, tay run run kéo áo hai thằng bạn:
"Đi... đi mau... về miếu!"
Minh còn chưa hiểu chuyện gì, định hỏi thì tôi gần như gào lên giữa cơn mưa:
"Nhanh! Mang con dao về cho ông Lương! Mau lên!"
Chúng tôi cắm đầu chạy, nước hòa cùng đất văng tung tóe. Gió thốc ngược khiến tôi khó mở mắt, nhưng tôi vẫn liếc lại – nơi bãi đất trống ấy, cô gái vẫn đứng đó, bất động giữa màn mưa trắng xóa, nhìn theo chúng tôi với ánh mắt vô hồn. Trời ngày một tối đi, những đám mây đen kéo đến dày đặc, che khuất ánh sáng cuối ngày. Chúng tôi bạt mạng chạy về phía miếu Thành Hoàng.
"Đến rồi... đến rồi! Ông Lương chắc vẫn còn trong đó..." Kiên hổn hển nói, giọng đứt quãng vì hụt hơi.
Cánh cổng miếu đã hiện ra trước mắt, chỉ còn cách vài chục mét. Tôi đã thấy được ánh đèn leo lét từ bên trong hắt ra, thấy khói hương bay lên qua khe cửa.
Nhưng chưa kịp bước thêm bước nào, Minh khụy xuống.
Thoạt đầu, tôi tưởng nó trượt chân. Nhưng rồi nó ôm ngực, gào thét đến lạc giọng. Tiếng hét xé toạc màn mưa, làm tôi và Kiên chết lặng. Nó ngã vật ra giữa lối đi, người co giật liên hồi, mắt trợn ngược chỉ thấy lòng trắng, miệng sùi bọt mép.
"Minh! Minh! Mày sao thế!?"
Tôi quỳ xuống, định kéo nó dậy, thì một luồng gió lạnh thốc thẳng qua mặt. Dù mưa vẫn rơi, nhưng mọi âm thanh dường như đã bị bóp nghẹt. Tôi không còn nghe tiếng mưa, tiếng gió, chỉ nghe rõ tiếng thở phì phò sát tai mình – nặng nề, ẩm ướt, như tiếng thở của một con thú lớn.
Từ từ ngẩng lên, tôi thấy một bóng đen đang đứng ngay sau lưng mình.
Bóng người cao lêu nghêu, mặc bộ trang phục cũ rách nát, tà áo đen phấp phới trong gió dù không có gió, mái tóc dài tết lại bằng một dải vải mục. Tôi không thể nhìn rõ mặt, chỉ thấy hai hốc mắt sâu hoắm như hai cái hang không đáy, phát ra thứ ánh sáng đỏ lờ mờ. Nó cao lêu nghêu, đứng im lìm, tỏa ra thứ khí lạnh thấu xương.
Tôi không thể hét, chỉ loạng choạng trượt ngã ra phía sau. Minh thì vẫn quằn quại dưới đất, mắt nhìn trừng trừng vào hư không. Rồi tôi thấy con dao trong tay nó – lưỡi dao rung lên khe khẽ, phát ra thứ âm thanh chói tai, như kim loại cọ vào đá, như tiếng rên rỉ từ địa ngục.
Tôi không nhớ rõ chuyện gì sau đó. Chỉ nhớ mình lao tới kéo Minh ra, tay lỡ chạm vào cán dao thì một luồng nhiệt bỏng rát lan khắp cánh tay, khiến tôi bật ngửa ra sau. Thằng Kiên thì chạy đâu mất hút.
Trong cơn hoảng loạn, tôi mơ hồ thấy một bóng áo nâu lao tới từ phía miếu, giơ tay làm động tác gì đó. Một ánh sáng vàng lóe lên, bóng đen phía sau tôi cũng tan dần trong làn mưa như một vệt khói. Cùng lúc, những tiếng nói xì xào vang lên xung quanh, nhiều người chạy tới, tiếng la hét, tiếng gọi nhau. Rồi cứ thế, tôi không còn nhớ chuyện gì đang xảy ra nữa, mọi thứ tối sầm lại.
Khi tôi mở mắt ra, trời đã tối từ bao giờ. Thứ đầu tiên nhìn thấy là ánh đèn leo lét hắt lên những thanh cột gỗ dài lên vách miếu. Bên ngoài, mưa vẫn rơi, nhưng nhẹ hẳn. Chỉ còn tiếng tí tách đều đều, xen lẫn tiếng gió rít qua khe cửa.
Cổ họng khô rát, đầu đau như búa bổ. Tôi định ngồi dậy thì một giọng khàn khàn vang lên bên cạnh:
"Dậy rồi đấy à, đây... uống cốc trà gừng cho ấm người. Các cháu liều thật đấy, hôm nay mà cũng dám đi tìm con dao!"
Tôi nhận cốc trà, bàn tay run run. Nước nóng chạm môi, vị cay xộc lên tận óc, làm tôi tỉnh táo hơn một chút. Mọi chuyện trước đó dần ùa về – tiếng thét của Minh, con dao rung lên, bóng người trong cơn mưa, bàn tay lạnh giá...
"Ông... ông ơi," – tôi lắp bắp, "thằng Minh đâu rồi ông?"
Kiên ngồi ngay bên cạnh, đôi mắt đỏ hoe, gương mặt bệt bạc, hốc hác như vừa trải qua một cơn bạo bệnh. Nó vừa thấy tôi mở mắt đã nghẹn lại, nước mắt ứa ra, không kìm được:
"Người ta... người ta đưa nó đi viện rồi. Tao với ông chỉ kịp kéo mày về đây. Cả người mày lạnh toát, tao tưởng mày cũng..."
"Thế... nó sao rồi?"
Kiên chỉ cúi đầu, hai tay nắm chặt, móng tay bấu sâu vào lòng bàn tay. Ông Lương cũng im lặng, chỉ thở dài, đôi mắt nhìn xa xăm ra ngoài màn mưa. Sực nhớ ra cảnh tượng trước lúc lim đi, tôi mới lên tiếng:
"Cháu lại thấy cô gái áo đỏ lúc tìm thấy con dao. Cô ta đứng bên kia bãi đất trống, nhìn chằm chằm vào tụi cháu."
Ông Lương cùng thằng Kiên nhìn về phía tôi. Ông tiến tới, ngồi xuống bên cạnh, giọng trầm xuống:
"Cháu nhìn thấy nó khi nào?"
"Lúc ở bãi đất trống cuối làng," tôi đáp, cổ họng nghẹn lại. "Khi tụi cháu tìm thấy con dao... cháu nhìn thấy cô gái đứng bên kia đồng. Xa lắm, nhưng rõ ràng lắm. Mặc nguyên bộ đồ đỏ... tóc dài ướt sũng, gió thổi mà không lay. Cô ta chỉ đứng nhìn cháu rồi... sợ quá cháu kéo hai thằng này chạy về."
Tôi dừng lại, tim đập thình thịch. Hình ảnh cô gái ấy vẫn hiện ra trước mắt, rõ mồn một.
"Nhưng cái bóng... cái bóng mà xuất hiện sau lưng Minh lúc nó gào thét... không phải là cô ta đâu. Nó khác hoàn toàn."
Cả miếu im lặng. Tiếng mưa ngoài kia bỗng như ngừng rơi, không gian nặng nề như chì.
Tôi tiếp, giọng nghẹn run:
"Cái bóng đó... to lắm. Cao hơn cháu cả cái đầu. Mặc áo đen rách nát, cháu còn không thể nhìn rõ mặt nó... mà mắt thì... cháu cũng chả thấy rõ, chỉ thấy hai hốc sâu hoắm, như hai cái hang không đáy, phát ra ánh sáng đỏ. Nó đứng im, nhưng cháu cảm nhận được nó đang nhìn cháu, đang thở bên tai cháu..."
Tôi không dám nói tiếp. Toàn thân tôi nổi da gà, mồ hôi lạnh túa ra khắp người.
"Mày... mày nói gì thế? Tao có thấy ai đâu! Tao chỉ thấy mày với thằng Minh thôi. Mày đang lay nó thì tự nhiên như trời trồng rồi gục xuống,thằng Minh thì co giật liên hồi, tao sợ quá mới chạy về gọi ông." – Kiên tiếp lời, mắt mở to kinh ngạc.
Ông Lương muốn nói gì đó, nhưng chưa kịp cất lời thì kẽo kẹt – tiếng cửa mở chậm rãi vang lên trong không gian tĩnh mịch.
Một ông lão khác bước vào, dáng người khòm khòm, chắc cũng ngang tuổi ông Lương. Ông ta mặc bộ quần áo nâu sờn, ướt sũng vì mưa, tóc dính bết vào trán. Ông đảo mắt nhìn quanh chúng tôi, rồi chậm rãi ngồi xuống ghế, ánh mắt xa xăm hướng ra bầu trời đen đặc bên ngoài.
Ông thở dài một tiếng nặng nề, rồi cất giọng khàn đặc:
"Thằng bé kia... nó chết rồi!"
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co